Xây dựng mô hình đánh giá sinh kế bền vững phù hợp với điều kiện ở Việt Nam

Ths: Nguyễn Xuân Quỳnh

Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học & Công nghệ

Sinh kế là hoạt động kiếm sống của con người thông qua việc sử dụng các nguồn lực (con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội…). Khi hoạt động sinh kế thích ứng, hoặc tránh được các tác động tiêu cực từ môi trường dễ bị tổn thương, đồng thời bảo đảm duy trì, phát triển được các nguồn lực trong cả hiện tại và tương lai thì được coi là sinh kế bền vững.

Năm 2001, DFID đã đề xuất khung sinh kế bền vững dựa trên phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế là: nguồn lực sinh kế; hoạt động sinh kế; kết quả sinh kế; thể chế và chính sách; bối cảnh bên ngoài nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế người nghèo trong xã hội từng bước thoát nghèo. Kể từ đó đến nay, khung sinh kế bền vững đã được sử dụng phổ biến trên thế giới, mang lại giá trị tích cực trong cả giới nghiên cứu và quản lý xã hội.

Từ hoạt động thực tiễn cho thấy, năng lực và vai trò của con người là quan trọng nhất quyết định mọi thành quả của hoạt động sản xuất, việc áp dụng khung sinh kế bền vững của DFID một các nguyên bản để phân tích, đánh giá và hỗ trợ phát triển các chiến lược sinh kế trong điều kiện đặc thù ở Việt Nam chưa thật đầy đủ toàn diện, chưa làm nổi bật được vai trò và năng lực chủ thể sinh kế trong các vấn đề phát triển. Trong khuôn khổ bài báo này chúng tôi giới thiệu tới độc giả bài viết Xây dựng mô hình đánh giá sinh kế bền vững phù hợp với điều kiện ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Xuân Quỳnh – Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học & Công nghệ:

Về cơ bản, các khung sinh kế bền vững đều phân tích sự tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế là: (1) nguồn lực sinh kế; (2) hoạt động sinh kế, (3) kết quả sinh kế, (4) thể chế và chính sách, và (5) bối cảnh bên ngoài [3].

Hình 1:1 Khung sinh kế bền vững do DFID đề xuất

Đánh giá đầy đủ các thành phần tạo năng lực của chủ thể sinh kế

Trên cơ sở đề xuất của Benjamin Bloom (1956) và các nghiên cứu bổ sung khác. Bằng phương pháp tiếp cận hệ thống, so sánh và đối chiếu, sử dụng các quy luật logic cây vấn đề, nghiên cứu thấy rằng năng lực của con người ngoài kiến thức, kỹ năng, thái độ như Benjamin Bloom đã đề xuất, cần phải bổ sung yếu tố sức khỏe, thể hình và sắc đẹp, độ tuổi, văn hóa, uy tín …làm năng lực của cá nhân.

Bởi vì, có kiến thức, kỹ năng và thái độ tốt nhưng không có sức khỏe thì không thể thực hiện công việc được. Thể hình, sắc đẹp là loại năng lực mà một số ngành nghề trọng xã hội coi là điều kiện tiên quyết, quyết định sự thành công của con người trong cuộc sống. Mỗi cá nhân có sứ mệnh lịch sử của mình theo độ tuổi, công việc và những ưu tiên cá nhân được thực hiện dựa trên những xem xét, cân đối cân bằng cuộc sống.

Vấn đề văn hóa, đạo đức và sự chấp hành luật pháp đóng vai trò quan trọng cho cá nhân đó tồn tại và phát triển trong cộng đồng. Cá nhân có lối sống lệch chuẩn mực với phong tục, đạo đức mà xã hội quy định, không tạo được tình cảm và uy tín cá nhân trong cộng đồng, ngược lại bị cộng đồng cản trở sự phát triển của bản thân. Mỗi cá nhân trong xã hội phải có ý thức chấp hành các quy định của pháp luật, cá nhân làm trái pháp luật sẽ bị các chế tài luật pháp cưỡng chế, tác động tiêu cực đến sinh kế và cuộc sống của cá nhân đó và gia đình họ. Văn hóa, đạo đức của mỗi cá nhân tạo nên uy tín cá nhân trong cộng đồng, là một trong các thế mạnh giúp cá nhân đó có thể huy động các nguồn lực xã hội phục vụ các chiến lược sinh kế của họ. Mặt khác, văn hóa, đạo đức cá nhân còn tạo cho họ có môi trường ổn định, an toàn hơn trong cuộc sống.

Để thuận tiện cho mục tiêu đánh giá đầy đủ năng lực của con người, cần xem xét mô hình năng lực cá nhân một cách toàn diện, như vậy sẽ đánh giá đầy đủ tất cả các khả năng của con người:

Mô hình năng lực cá nhân bao gồm: Kiến thức; Kỹ năng; Thái độ; Sức khỏe; Văn hóa đạo đức. Với những mô tả như sau:

+ Kiến thức thuộc về năng lực tư duy, khả năng nhận thức và đánh giá của con người về sự vận hiện tượng. Những kiến thức chuyên môn phục vụ cho chiến lược sinh kế cụ thể của họ;

+ Kỹ năng thuộc về các thao tác, tính thành thục, khéo léo và tốc độ thực hiện công việc;

+ Thái độ là sự cố gắng để cá nhân đó hoàn thành công việc.

+ Sức khỏe bao gồm sức khỏe y tế và sức khỏe thẩm mỹ, tuổi trẻ có vai trò vô cùng quan trọng để cá nhân thực hiện chiến lược sinh kế của bản thân.

Sức khỏe y tế là thể trạng để cá nhân hoàn thành các công việc lao động. Sức khỏe thẩm mỹ đánh giá qua hình dáng bề ngoài, giọng nói…. Được xem xét, đánh giá tùy thuộc vào nhận thức của từng tộc người qua giai đoạn lịch sử nhất định. Sức khỏe của cá nhân là một loại năng lực, được xem xét tổng thể đánh giá năng lực con người để đạt được mục đích của họ.

+ Văn hóa đạo đức mỗi cá nhân, được bồi đắp theo thời gian trở thành uy tín cá nhân trong cộng đồng, là điều kiện tập trung các nguồn lực và điều hành nguồn lực con người phục vụ các hoạt động sinh kế của họ. Đạo đức cá nhân phù hợp với chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng đó, có tác động ngày càng tăng cường uy tín cá nhân. Vấn đề tuân thủ và chấp hành các chính sách, pháp luật giúp cá nhân đó có cuộc sống ổn định và phát triển.

. Gắn kết năng lực chủ thể sinh kế với khung sinh kế bền vững

Trên cơ sở phân tích ở trên, nghiên cứu thấy rằng năng lực cá nhân là chủ thể của hoạt động sinh kế có vai trò quan trọng nhất và không thể tách rời trong lý thuyết khung sinh kế bền vững. Các yêu tố trong khung sinh kế tác động qua lại với nhau theo mô hình: Ngữ cảnh tác động từ bên ngoài -> Nguồn lực sinh kế -> Chủ thể sinh kế-> Hoạt động sinh kế -> Kết quả sinh kế.

Ngữ cảnh tác động từ bên ngoài: Thiên tai, bệnh dịch, chiến tranh và các hoạt động kinh tế lớn……

Nguồn lực sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ. Có 5 loại nguồn lực sinh kế: Nhân lực, tài chính, vật chất, tự nhiên, xã hội

Năng lực của chủ thể sinh kế: Trong xã hội, con người sống thành tổ chức, đơn vị nhỏ nhất của xã hội là hộ gia đình. Người đứng đầu hộ gia đình là chủ thể sinh kế hộ gia đình, họ có vai trò quan trọng trong thực hiện các hoạt động sinh kế và nuôi sống các cá nhân khác trong gia đình.

Năng lực của chủ thể sinh kế được thể hiện bằng kiến thức chuyên môn, kỹ năng, thái độ, sức khỏe và văn hóa đạo đức của họ trong cộng đồng để thực hiện các chiến lược sinh kế

Chủ thể sinh kế sử dụng 05 nguồn lực sinh kế để thực hiện các hoạt động sinh kế dựa trên hệ thống chính sách, pháp luật và bối cảnh bên ngoài của địa phương để tiến hành các hoạt động sinh kế. Hoạt động sinh kế đạt được kết quả như thế nào phụ thuộc rất nhiều năng lực của chủ thể sinh kế.

Hoạt động sinh kế: Hoạt động sinh kế là cách mà hộ gia đình, cộng đồng sử dụng các nguồn lực sinh kế sẵn có để kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống. Các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng có những đặc điểm kinh tế-xã hội và các nguồn lực sinh kế khác nhau nên có những lựa chọn về hoạt động sinh kế không giống nhau. Các hoạt động sinh kế có thể thực hiện là: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp qui mô nhỏ, buôn bán, du lịch, di dân…

Kết quả sinh kế là những thành quả mà hộ gia đình, cộng đồng đạt được khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các hoạt động sinh kế. Các kết quả sinh kế chủ yếu bao gồm: tăng năng suất, ổn định lương thực và tài chính, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Chính sách hỗ trợ của chính phủ: Trong thực tiễn quản lý, khi kết quả sinh kế không đem lại hiệu quả như kỳ vọng, Chính phủ xem xét, đánh giá và ban hành các chính sách hỗ trợ, nhằm mục đích tác động vào các yếu tố trong khung sinh kế, để hoạt động sinh kế đạt kết quả bền vững.

  1. Nhóm các giải pháp hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững.

Căn cứu vào khung phân tích tại Hình 1.3, các cơ quan chính phủ đánh giá được chiến lược sinh kế chưa thực thực hiệu quả, bền vững theo tiêu chí mà họ đưa ra. Từ đó, họ xem xét nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cụ thể lồng ghép trong chiến lược chung hướng đến sự phát triển bền vững. Có thể thấy một số các giải pháp sau:

– Làm giảm mức độ tác động của các ngữ cảnh ban đầu. Xem xét, phân loại các loại ngữ cảnh tác động thuộc loại nào, từ đó đánh giá và đề ra giải pháp ứng phó

– Thay đổi cách tiếp cận 05 nguồn lực sinh kế, cũng như tăng cường, xây dựng, cải tạo nguồn lực sinh kế sao cho phù hợp với thực tiễn;

– Nâng cao năng lực cho chủ thể sinh kế như: Nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề; Thay đổi nghề nghiệp; Hỗ trợ sản xuất và bao tiêu sản phẩm; Tăng cường sức khỏe; Tăng cường văn hóa và chấp hành luật pháp…….

– Thay đổi các hoạt động sinh kế: Hướng dẫn quy hoạch các nguồn thu nhập hướng đến các tiêu chí phát triển bền vững…

– Kết quả sinh kế: Đánh giá chiến lược sinh kế có bền vững hay không thì kết quả sinh kế thể hiện phải đáp ứng các tiêu chí: Tăng năng suất và thu nhập; ổn định lương thực và chi tiêu trong gia đình; sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Từ đó, chính phủ có thể tác động trực tiếp vào kết quả sinh kế như ổn định giá cả hàng hóa, bảo hộ hàng hóa, quản lý chất lượng và định hướng thị trường thương mại sản phẩm là kết quả của chiến lược sinh kế cụ thể.

Khung sinh kế bền vững là khối thống nhất giữa các yếu tố, căn cứ vào khung phân tích, nhà nghiên cứu độc lập đánh giá được vai trò, mối quan hệ qua lại của từng yếu tố trong khung phân tích tác động đến kết quả sinh kế. Từ đây có biện pháp quản lý theo định hướng cần bằng lợi ích các nhóm, các cộng đồng và địa phương trong một quốc gia vì mục tiêu ổn định, ấm no và phát triển.

 Kết luận và khuyến nghị

Khung sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo được quan tâm trong thời đại hiện nay. Cách tiếp cận sinh kế bền vững quan tâm đến vai trò con người là trung tâm của sự phát triển. Tuy nhiên, khung sinh kế bền vững của DFID chưa mô tả và gắn kến được năng lực và vai trò của chủ thể sinh kế có vị trí quyết định kết quả của hoạt động sinh kế.

Khung sinh kế bền vững được nghiên cứu và phát triển đã thể hiện được quá trình thực hiện chiến lược sinh kế, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành lên sinh kế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của con người là chủ thể sinh kế được xem xét năng lực một cách toàn diện.

Khung sinh kế bền vững được phát triển, gắn kết và mô tả đúng vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lực sinh kế. Từ đó, làm cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn vững chắc cho nhà nước ban hành các giải pháp và điều chỉnh chính sách phù hợp hơn giúp cộng đồng nói riêng và Quốc gia nói chung phát triển bền vững.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *