Tương ớt Mường Khương: Tương ớt của ông thợ mộc và câu chuyện ông làm bà mang ra chợ

Trung Nguyên – Kiều Nga

Chú Nguyễn Văn Dũng, người khởi xướng cho những chai tương ớt Mường Khương đầu tiên

Tương ớt của ông thợ mộc

Tương ớt Mường Khương là thương hiệu đặc sản của tỉnh Lào Cai nhưng Hợp tác xã (HTX) Hoa Lợi lại chính là nơi cho ra những sản phẩm đầu tiên, bắt tay vào xây dựng thương hiệu cho nó.

Câu chuyện phải kể về những năm thập kỷ 2000, thời điểm mà tương ớt Mường Khương của HTX Hoa Lợi mới xuất hiện trên ý tưởng, giấy tờ.

“Ớt này xuất phát từ Mường Khương. Những năm đó mình có làm thầu xây dựng, vào Mường Khương làm công trình, thấy ớt, gạo nơi đấy ngon, mình nghĩ ngày cần làm thương hiệu, thế thôi. Cứ đơn giản vậy là mình bắt tay vào làm thôi”, chú Nguyễn Văn Dũng, người khởi xướng cho những chai tương ớt Mường Khương đầu tiên và giờ khắp các siêu thị ở Hà Nội cũng bày bán, kể “đơn giản” là như vậy.

Lịch sử tương ớt xứ Lào Cai này nghe chưa đến một phút, nhưng “đối với chú cái gì chẳng khó vì xuất thân từ một nhà thầu xây dựng, bắt tay vào làm nông nghiệp là cả vấn đề nan giải”, chú cười sang sảng.

Người đàn ông đứng tuổi, dáng vẻ rắn rỏi có từ nghề xây dựng ấy hạ giọng, phải lênh đênh mất nhiều năm để ra được sản phẩm, phải đi học công thức của người dân bởi tính cổ truyền của nó.

Chính sự cổ truyền ấy là cái khó khi nguyên liệu là đồ sống. Từ nước tới ớt hay tỏi cũng sống mà để ra được sản phẩm không váng mốc, không tách nước, không mất màu là cả vấn đề nản giải với bà con chứ đừng nói là dân ngoại đạo như chú.

Ngồi ngay ngắn lại từ tư thế chân chữ ngũ, tay dang rộng bạn đầu, sự nghiêm túc đi theo câu chuyện “bảy năm mới thành công được và mới ra được thị trường”.

Phải học nhiều thứ. Rồi nó hỏng, phải làm lại, làm nhiều lần như thế, nhiều năm như thế, hỏng rất nhiều, lúc thì chua, lúc váng mốc, lúc lại tách nước, mất màu, nhiều vấn đề phải giải quyết, khẽ lắc đầu chú nói.

Chẳng có ai dạy cả, làm gì có thầy nào dạy đâu, chỉ có hỏi dân làm thế nào nhưng làm cũng có thành đâu.

Thành thử phải tự nghiên cứu sao cho tất cả công thức đó phải cân bằng nhau “tớ – cách chú tự xưng” phải đi hỏi những nhà khoa học như các anh bên hóa lý, các anh cho mình những công thức để mình tìm hiểu xem cho độ muối bao nhiêu là được. Lượng nước hay các loại cân bằng nhau rồi thì làm thế nào để không tách được nước ra, không bị mất màu đi”,  chú kể.

Thuở mới đầu chỉ là vài tấn, vài chục tấn, giờ là mấy trăm tấn một năm rồi. “Đến bây giờ tớ cảm thấy rất thoải mái. Thật ra mà nói sản phẩm của tớ, đối với tớ là thành công rồi”, chú lại cười khi nói về thành quả.

Chú Dũng đang kiểm tra chất lượng ớt

“Kỹ sư” thất học

Nghe thêm nhiều câu chuyện ngày xưa nữa, chú kể: “Học thức của chú thì lớp 1, lớp 2 lớp 3 thôi. Chú không được ăn, được học. Tớ học hết lớp 5 thôi, ăn còn không có nói gì đến đi học”.

Người gốc Hải Dương, chú lên Yên Bái lập nghiệp ngót một thập kỷ rồi năm 1991 lại ngược lên Lào Cai làm nghề gia truyền – thợ mộc. “Tớ là tay thợ mộc cao thủ đấy, tớ mở xưởng và làm rất nhiều công trình của nhà nước, nhưng trình độ học vấn của tớ chỉ hết lớp 5 thôi”, chú cười hóm hỉnh nhưng không thiếu vẻ tự hào.

18 năm làm nghề thầu xây lắp tính từ ngày tách tỉnh ra (Lào Cai tách thành tỉnh độc lập năm 1991), người đàn ông tự nhận “dù không có trình độ học vấn” này vẫn có cho mình cả một câu chuyện thành công với thất bại.

Thành công cũng có từ rất nhiều công trình được nhận bằng khen của tỉnh, tới thất bại đỉnh điểm “chính thức thua lỗ 17 tỷ” những năm 2007.

Mất hai năm để trả hết nợ, câu chuyện về tương ớt mở ra sau đó. “Tớ bán rất nhiều tài sản để trả nợ, nhà cửa, đất cát, cơ giới, sau đó cứ lao vào nông nghiệp thôi”.

“Tớ phải làm nhiều ngành nghề để kiếm tiền, để nuôi nông nghiệp cần rất nhiều tiền”, chú nói.

Theo lời chú, không phải chỉ cần vài trăm triệu là làm được xưởng ớt. Phải nhiều tỷ mới làm được vì riêng nguyên thiết bị đã mất vài tỷ. Rồi nguyên loại ớt ngọt này.

Cho tới bây giờ mình vẫn làm rất nhiều nghề khác để nuôi nó. Giờ mình không bỏ được nó, bao nhiêu công sức tâm huyết vào đây, giờ đã 15 năm rồi, đẩy nhẹ gọng kính lên chú nói.

“Thương hiệu ớt cay đăng ký từ 2006, nhưng mãi đến 7 năm sau, năm 2012 mới cho ra sản phẩm tương ớt Mường Khương bây giờ”, cô Nguyễn Thị Hồng Loan, vợ chú tiếp lời.

Từ những chai tương ớt đầu tiên, tới cả cuộc đời từ xưa tới nay, cô vẫn là người đồng hành trên suốt chặng đường dài ấy. Trái ngược hoàn toàn với dáng ngồi mạnh mẽ của chú, cô nép mình bên cạnh, nhỏ bé như dáng vẻ của mình, nhưng lại thể hiện rõ sự vững chắc của một chỗ dựa tinh thần.

Cô kể, ngày đó vốn còn phải làm nhiều việc khác để nuôi nghề chứ không có cả khoản lớn để đầu tư nên làm nhiều việc khác để có tiền nuôi nó lớn dần. HTX không có nhiều tiền, mỗi người góp được tí.

Khi thành công rồi lại tới nguyên liệu gặp vấn đề. Không có nguyên liệu, lại phải làm giống, phải chọn loại giống ớt cổ của Mường Khương.

Thật ra thì ở Mường Khương sản phẩm ớt và gạo của người ta rất nổi tiếng nhưng không ai dám đứng ra làm thương hiệu, người dân thiểu số lại càng khó vì họ không có ý tưởng.

7 năm học nghề, rồi thêm từng ấy thời gian để làm vùng nguyên liệu, để làm thương mại, cho tới nay giống ớt ở Lào Cai hoàn toàn là giống ớt xuất phát từ ý tưởng làm thương hiệu ớt của hai vợ chồng.

Họ đưa xuống vùng thấp để trồng, đưa xuống cả Vĩnh Phúc để trồng, cả Thanh Hóa, hiệu quả cũng tốt. “Ớt xanh mà nướng xong dầm ra với muối ngon lắm”, cô Loan kể.

Khi chúng tôi có chút tò mò về việc đã bao giờ có những khúc mắc giữa hai người khi chú từng đạt những thành tựu trong ngành xây dựng rồi bỏ dở quay sang nông nghiệp như vậy. “Tớ đam mê quá nên bà này bà ấy chán”, chú cười mà nhìn sang người đồng hành cả cuộc đời ngồi bên.

“Ý tưởng là tự mình nghĩ, mình làm thôi. Có nói qua với vợ. Mình làm cái gì cũng bảo với vợ để bà ấy biết, chỉ có bà ấy là động viên tinh thần. Nhưng lắm lúc bà cáu vì làm nhiều quá”, chú nhìn vợ cười nhẹ nhàng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *