Tự chủ đại học: Nhiều trường “hốt hoảng” vì tâm lý ngại thay đổi

Lê Thanh Dung

Ảnh minh họa (Internet)

Theo Phó thủ tướng Vương Đình Huệ: “Tự chủ đại học không có nghĩa là các trường đại học phải hoàn toàn “tự túc”, “tự bơi” về mặt tài chính mà là các trường được chủ động hơn về mọi mặt, trong đó có các quyết định về tài chính. Đồng thời nhà nước vẫn có chính sách đặt hàng đào tạo, đầu tư, hỗ trợ phát triển cùng với các chính sách xã hội hóa và đóng góp nguồn lực từ các doanh nghiệp”.

Để hiểu rõ hơn vấn đề này, Tạp chí Thương Gia & Thị trường đã có cuộc trao đổi với  PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, Trưởng Bộ môn Quản trị Tài chính Quốc tế (Khoa Tài chính Quốc tế – Học viện Tài chính) về vấn đề này.

Tự chủ đại học là xu thế tất yếu cần phải làm. Tuy nhiên, việc thực hiện các cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng còn rất chậm. Hầu hết các trường đại học tự chủ bị cắt giảm ngân sách nhà nước nên dù các trường vẫn duy trì được hoạt động, thậm chí tốt hơn nhưng chưa đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là nghiên cứu khoa học. Ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

+ PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Việc cắt giảm ngân sách tại nhiều trường đại học và tự tạo thói quen “tự túc” là đương nhiên. Bởi vì ngay cả những trường được nhà nước hỗ trợ ngân sách cũng không phải được nhận 100% như trước đây.

Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần ngân sách, còn lại trường cũng phải tự lo thông qua hình thức đấu thầu hoặc các đơn đặt hàng để có được khoản tài trợ ngân sách.

Khi các trường đại học đã tự chủ về đào tạo, mục tiêu phát triển, nội dung chương trình…thì cũng phải tự chủ về tài chính. Vì nếu không tự chủ về tài chính thì sẽ không chủ động được đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Cũng liên quan đến tự chủ đại học, có lẽ tài chính là vấn đề khiến không ít trường “đau đầu”. Cũng đã có không ít trường lo lắng khi được giao tự chủ, thưa ông?

+ PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Từ trước đến nay, hầu hết các trường công lập đều được nhà nước bao cấp 100%. Như vậy, từ chỗ “không phải lo lắng” gì về tài chính khi cứ việc xin tiền từ ngân sách nhà nước.

Theo kế hoạch hàng năm ngân sách “rót” xuống một khoản nhất địnhh để các trường  chi tiêu. Và bây giờ xu thế đã thay đổi, các trường dần phải tự lo hoặc tự lo một phần thì có rất nhiều trường cảm thấy “hụt hẫng”.

Thứ nhất do tâm lý ngại thay đổi. Thứ hai, từ trước đến nay các trường đều dùng tiền ngân sách nhà nước, bây giờ phải tự hoạch toán khiến các trường không khỏi lo lắng. Thứ ba, để có được nguồn thu sẽ nảy sinh một vấn đề cơ bản.

Phải rà soát lại nội dung, chương trình đào tạo để sản phẩm đào tạo ra được xã hội chấp nhận và trả tiền. Tiếp đến là kiểm soát các khoản thu, chi.

Từ trước đến nay một số trường vận dụng mối quan hệ “người nhà, người quen” đưa vào trường làm cán bộ hoặc nhân viên trong trường. Hiện nay, một số trường đai học có số lượng quản lý và nhân viên còn nhiều hơn giáo viên.

Trong khi đó, đội ngũ giáo viên được ví như “máy cái” để tạo ra chất lượng, hiệu quả của nhà trường, nhưng sự quan tâm đến đội ngũ này còn bị “chểnh mảng” như lương, thưởng còn thấp hơn lực lượng quản lý.

Một vấn đề nữa khiến các trường lo lắng khi phải tự chủ đó là các trường phải có “tên tuổi”, thì xã hội mới chấp nhận. Nhưng để tạo được thương hiệu riêng đòi hỏi phải có thời gian. Vì thế, nhiều trường, trong đó có những trường mới được “nâng cấp” thời gian gần đây rất lo lắng.

Cuối cùng, khi đã tụ chủ thì nhà nước không chỉ đặt hàng riêng một trường nào mà thông qua đấu thầu công khai giữa các trường với nhau. Trường nào đưa ra phương án tối ưu thì sẽ được nhận gói thầu đó.

Việc đầu thầu sẽ làm thay đổi tất cả tư duy của các trường. Ví dụ, chỉ riêng đào tạo trong lĩnh vực kinh tế, khoảng 10 năm trở lại đây lĩnh vực này đã phát triển ‘rầm rộ” khắp tất cả các trường, kể cả Đại học Bách Khoa, Đại học KHXHNV… đều có khoa kinh tế.

Trường nào cũng đào tạo kế toán, ngân hàng, tài chính, nhưng đào tạo chuyên sâu thì chỉ đếm “trên đầu ngón tay”.

Do đó, trong quá trình tự chủ sẽ buộc các trường phải sắp xếp, bố trí lại ngành nghề đào tạo, các khoản thu – chi, nội dung chương trình sao cho phù hợp hơn với thực tiễn.

Đây là sự đổi mới gần như toàn bộ, từ nội dung đến tư duy của các trường đại học với người học và với xã hội.

Từ chỉ đạo của Phó thủ tướng Vương Đình Huệ, ông đánh giá thế nào về quá trình hợp tác công tư trong lĩnh vực giáo dục của Việt Nam thời gian tới?

+ PGS.TS Đinh Trọng Thịnh: Hợp tác công tư trong lĩnh vực giáo dục cũng giống như các lĩnh vực khác, đó là phải có quy định rõ ràng cái gì là công và cái gì là tư.

Đối với các trường đại học, phải xác định trường nào nhà nước coi là trường công và có hỗ trợ ngân sách đến mức bao nhiêu. Khi đã có hợp tác công – tư thì phải thông qua đấu thầu. Trong quá trình đấu thầu, bên nào bỏ thầu hợp lý và đảm bảo chất lượng thì khi đó sẽ thắng thầu.

Trong các hợp đồng phải rõ ràng, lấy chất lượng và hiệu quả của đầu ra để xem xét việc hợp tác công tư giữa nhà nước với các trường đại học. Từ đó sẽ làm cho nền giáo dục đại học của chúng ta sẽ tương đồng với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt để các nước công nhận chất lượng bằng đại học của Việt Nam.

Việc hợp tác công tư trong giáo dục sẽ góp phần đổi mới quá trình đào tạo, thu hẹp hoặc mở rộng các ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu quản lý, cũng như cuộc cách mạng 4.0.

Vì chỉ trong vòng 10 năm tới, khi 4.0 phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam, rất có thể nhiều ngành nghề các trường đang đào tạo sẽ bị “ế ẩm”.

Cho nên cần “chuyển hướng” sớm, nếu không sẽ xảy ra tình trạng hàng chục triệu lao động thất nghiệp thời gian tới. Đây cũng chính là đòi hỏi việc tự chủ trong đào tạo đại học của Việt Nam hiện nay.

Xin cảm ơn ông!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *