Điều gì thúc đẩy Việt Nam thành trung tâm sản xuất

Quỳnh Anh tổng hợp

Nhân viên nhà máy sản xuất máy thở Vsmart của Vingroup tại Việt Nam kiểm tra kỹ thuật số quy trình SMT của công ty (ânh / Long Nguyễn / Shutterstock)

Tech Wire Asia, trang web tin tức công nghệ ở Châu Á với các bài viết và phân tích chuyên sâu có bài phân tích vì sao Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, chúng tôi xin dẫn lại bài viết này

Nằm ở phía đông của Đông Nam Á, là một quốc gia khiêm tốn với 96 triệu dân – Việt Nam. Nó từng là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới cho đến khi cải cách kinh tế mạnh mẽ được thực hiện vào năm 1986.

Cùng với những tác động của toàn cầu hóa, Việt Nam đã được đẩy thẳng vào nền kinh tế có thu nhập trung bình chỉ trong một thế hệ và đang trên đà phát triển kinh tế cao hơn kể từ đó.

Thương mại điện tử xuyên biên giới trong ASEAN

ASEAN là một nền kinh tế kỹ thuật số đang phát triển khổng lồ – Google, Temasek và Bain dự đoán, trong báo cáo e-Conomy SEA hàng năm của họ, rằng khu vực này sẽ đạt nền kinh tế kỹ thuật số trị giá 1 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2030 .

Dự đoán này thậm chí còn phát triển mạnh mẽ hơn khi Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 năm nay, sẽ loại bỏ tới 90% thuế quan thương mại xuyên biên giới đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu trong vòng 20 năm đối với các quốc gia thành viên.

Không thể đánh giá thấp tốc độ mà ASEAN đang số hóa. Đại dịch Covid-19, trong khi một thảm họa kinh hoàng trên toàn thế giới, đã góp phần thúc đẩy quá trình số hóa trên toàn cầu, đặc biệt là ở ASEAN.

Các đợt dãn cách xã hội xung quanh khu vực đã thúc đẩy người tiêu dùng mua hàng hóa và dịch vụ của họ thông qua các phương tiện trực tuyến. Điều này đã thúc đẩy nhiều người trực tuyến hơn, không chỉ để làm việc mà còn để giải trí, mua sắm, ẩm thực, cửa hàng tạp hóa, v.v.

Báo cáo của Google, Temasek và Bain nhấn mạnh rằng sự tăng trưởng bền bỉ của SEA chủ yếu được thúc đẩy bởi thương mại điện tử và giao hàng thực phẩm, và cả hai ngành dọc đều được kỳ vọng sẽ thúc đẩy nền kinh tế internet của khu vực phát triển trong thập kỷ tới.

Một báo cáo của Deloitte vào tháng 12 năm ngoái đã theo dõi sự tăng trưởng và trạng thái của thương mại kỹ thuật số xuyên biên giới ở Châu Á Thái Bình Dương .

Nó chia thị trường thành ba phân khúc: Trưởng thành, đang phát triển và mới nổi.

Nhìn chung, các thị trường trưởng thành có tốc độ phát triển nhanh chóng ở Châu Âu, Châu Mỹ và Đông Nam Á. Các thị trường đang phát triển chủ yếu mở rộng bán hàng sang thị trường Châu Á.

Hơn 80% doanh nghiệp thương mại điện tử xuyên biên giới ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam cho rằng thị trường Đông Nam Á có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất.

Đây là ba lĩnh vực bán hàng hàng đầu trong thương mại điện tử xuyên biên giới giữa các quốc gia APAC:

Việt Nam: Trung tâm sản xuất

Việt Nam nổi tiếng là trung tâm của các hoạt động sản xuất, đặc biệt là bởi các quốc gia có thu nhập cao hơn đang áp dụng chiến lược “Trung Quốc cộng một”.

Còn được gọi là ‘Plus one’, đây là một chiến lược kinh doanh trong đó các công ty đa dạng hóa đầu tư vào các quốc gia khác ngoài Trung Quốc để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc.

Chi phí kinh doanh ở Việt Nam, đặc biệt là đối với lĩnh vực sản xuất, thấp, do chi phí đầu tư phải chăng như chi phí xây dựng, đất đai và nhân công.

Nó cũng đi kèm với các chính sách thuế lũy tiến đối với các công ty nước ngoài, cũng như lợi ích cho các công ty sử dụng năng lượng xanh hoặc có kế hoạch kết hợp năng lượng này.

Việt Nam có các chính sách phù hợp để hỗ trợ thúc đẩy FDI , và tập trung nhiều hơn vào việc thiết lập một môi trường trung lập tự do.

Nó cũng cung cấp các điều kiện cần thiết cho việc phân cấp quản lý FDI hiệu quả và thúc đẩy sự hỗ trợ của các ngành công nghiệp khác và tham vấn chặt chẽ hơn với các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng.

Nhưng có lẽ khía cạnh hấp dẫn nhất của hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nằm ở vị trí địa lý và khả năng tiếp cận. Lĩnh vực chế biến và chế tạo của Việt Nam là lĩnh vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI lớn nhất, ở mức 58,2% vào năm 2020 – và có lý do chính đáng.

Quốc gia này có vị trí địa lý rất chiến lược và so với hầu hết các nước láng giềng, có khả năng tiếp cận cao với các tuyến đường thương mại và vận chuyển hàng hóa lớn trong và ngoài Đông Nam Á và Châu Á.

Nó có vô số sân bay quốc tế, cảng biển và đường sắt – tất cả đều tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy sản xuất và hậu cần cần thiết của nó.

Lợi thế sản xuất của Việt Nam?

So với các công ty cùng ngành trong khu vực, đây là mức cao nhất về số hóa trong sản xuất và chế tạo, liên quan đến thương mại điện tử xuyên biên giới.

Việt Nam dường như đang dần vươn lên và thực hiện rất tốt trong công cuộc số hóa trên hầu hết các khía cạnh khác của Thương mại điện tử.

Nhìn chung, khu vực APAC nhận thấy chi phí hậu cần cao là khía cạnh thách thức nhất của Thương mại điện tử xuyên biên giới – ngoại trừ Việt Nam. 61,8% doanh nghiệp tại Việt Nam nhận thấy khó khăn trong khâu kiểm tra thủ tục hải quan là thách thức lớn nhất đối với Thương mại điện tử xuyên biên giới.

Tỷ lệ phần trăm nhìn chung thấp trên các lĩnh vực thương mại điện tử khác cho thấy Việt Nam có tương đối ít vấn đề về hậu cần, tiếp thị và chi phí, điều này giúp dễ dàng nhắm mục tiêu vào các lĩnh vực có thể cải thiện hơn nữa để tạo thuận lợi cho thương mại xuyên biên giới.

Mặc dù vẫn còn nhiều cách để Việt Nam thâm nhập vào các khía cạnh số hóa tiên tiến hơn của Thương mại điện tử như trong hậu cần và thanh toán, nhưng chỉ từ mức độ số hóa trong sản xuất, Việt Nam có vẻ sẽ vượt qua những đối thủ sừng sỏ như Trung Quốc và thậm chí là Malaysia. trong một số lĩnh vực sản xuất nhất định.

Không nghi ngờ gì nữa, Covid đã đưa ra một chìa khóa trong các kế hoạch của đất nước trong vài năm qua, với tỷ lệ tiêm chủng cao hơn và quay trở lại các nhà máy, cũng như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Việt Nam có vẻ sẽ tiếp tục dẫn đầu khu vực trong sản xuất và sản xuất – ít nhất là trong tương lai gần.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *