Người dùng iOS cần cẩn thận đến ba ứng dụng VPN lừa đảo

Các nhà nghiên cứu bảo mật tại Avast đã phát hiện và báo cáo ba ứng dụng VPN trên iOS đang cố gắng lừa đảo người dùng mua các đăng ký đắt đỏ mỗi tuần một lần.

Theo AppleInsider, ba ứng dụng mà các nhà nghiên cứu của Avast phát hiện ra là các ứng dụng VPN được xếp hạng cao nhưng lại không cung cấp các dịch vụ như quảng cáo. Cụ thể, chúng bao gồm Buckler VPN, Hat VPN và Beetle VPN. Cả ba ứng dụng hiện vẫn có sẵn trên App Store với các xếp hạng từ 4,6 sao đến 4,8 sao.

Avast lưu ý các ứng dụng không chứa thành phần độc hại nhưng thực hiện các hoạt động xấu để tính phí người dùng bằng các khoản tiền vô lý cho đăng ký hằng tuần, hằng tháng hoặc hằng năm cho các tính năng thường có giá rẻ hơn nhiều. Cụ thể, ba ứng dụng này tính phí 9,99 USD/tuần/thuê bao sau khi cho họ dùng thử miễn phí 3 ngày. Khi người dùng đăng ký và cố gắng sử dụng VPN sẽ nhận thấy lời nhắc bổ sung để mua quyền truy cập.

Avast cũng lưu ý họ đã tìm thấy bằng chứng các đánh giá xếp hạng cao của ứng dụng là giả mạo. Hầu hết trong số chúng được viết tương tự và xen giữa chúng là những bình luận cảnh báo về chức năng lừa đảo.

Công ty bảo mật khuyến nghị người dùng chú ý đến loại phí nào có thể bị thanh toán sau khi sử dụng hết bất kỳ thử nghiệm miễn phí nào và giám sát chặt chẽ các khoản phí thẻ tín dụng để đảm bảo chúng không bị tính phí quá mức. Avast cho biết họ đã báo cáo cả ba ứng dụng cho Apple.

Theo Thanh Niên

Nguồn: https://thanhnien.vn/cong-nghe/canh-bao-cac-ung-dung-vpn-lua-dao-tren-ios-1233365.html

Nguyên Hoàng

Theo đại diện Bộ Công Thương, để tận dụng cơ hội mà EVFTA mang lại, trước hết phải hiểu, biết được hiệp định. Tạp chí Thương gia và Thị trường xin giới thiệu một số thông tin về các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và đang tham gia do Bộ Công Thương cung cấp theo hình thức hỏi đáp

+ Những nét chính về cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu của EU trong hiệp định EVFTA và đánh giá mức độ cam kết của EU so với các nước tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)?

-Với Hiệp định EVFTA: Ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, EU cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU.

Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Đối với một số ít mặt hàng còn lại (tương đương khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu), EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan (TRQ) với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.

Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn (07 năm).

Bộ Công Thương vừa tổ chức Hội nghị tập huấn về Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) dành cho các nhà báo, phóng viên với mong muốn các thông điệp về EVFTA sẽ đến được với người dân, doanh nghiệp một cách nhanh chóng và chuẩn xác.

Với Hiệp định CPTPP: Các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước và tùy theo lộ trình, tối đa là 17 năm (với Pê-ru).

+ So sánh mức độ cam kết của Việt Nam về xóa bỏ thuế quan trong Hiệp định EVFTA và Hiệp định CPTPP

Với Hiệp định EVFTA: Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu).

Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu).

Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, ta áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng TRQ theo cam kết WTO hoặc không cam kết.

Với Hiệp định CPTPP: Ta cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 66% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và 86,5% số dòng thuế sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Các mặt hàng còn lại có lộ trình giảm thuế chủ yếu từ 5 đến 10 năm. Đối với một số mặt hàng đặc biệt nhạy cảm, ta yêu cầu lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ).

Như vậy, có thể thấy đối với cả hai Hiệp định, ta đều có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu trong khoảng 10 năm với khoảng 99% số dòng thuế của các nước đối tác.

Đối với những mặt hàng nhạy cảm, ta đều bảo lưu được một khoảng thời gian (lộ trình xóa bỏ thuế) tương đối dài (hơn 10 năm) hoặc áp dụng TRQ hoặc không cam kết.

+ Một trong những mặt hàng được kỳ vọng sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã và đang tham gia là dệt may. Vậy các quy định của Hiệp định EVFTA về quy tắc xuất xứ đối với mặt hàng này thế nào?

– Hiệp định EVFTA yêu cầu quy tắc xuất xứ “hai công đoạn” (từ vải trở đi) đối với hàng dệt may, tức là để được hưởng thuế quan ưu đãi theo EVFTA thì hàng dệt may của Việt Nam phải được làm từ vải có xuất xứ Việt Nam.

Ngoài ra, đối với các sản phẩm dệt may thuộc Chương 61 và 62 của biểu thuế, EU cũng cho phép ta được sử dụng vải nhập khẩu từ Hàn Quốc để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng xuất khẩu sang EU và vẫn được hưởng thuế suất ưu đãi của EVFTA.

Trong khi đó, quy định của CPTPP tương đối chặt hơn bởi Hiệp định này yêu cầu hàng dệt may phải có xuất xứ “từ sợi trở đi”, tức là sợi và vải phải được sản xuất và/hoặc nhập khẩu từ các nước CPTPP, thì mới được hưởng thuế suất ưu đãi của Hiệp định khi xuất khẩu sang các nước CPTPP.

 

Quỳnh Chi (Theo Tech in asia)

Vào một ngày bình thường ở Hà Nội, một phụ nữ mặc đồ hàng hiệu từ đầu đến chân bước ra đường. Cô đeo chiếc túi Chanel trên vai, dây đeo của túi chạm vào chiếc thắt lưng Gucci, đeo một chiếc kính râm hiệu Dior, đội mũ bảo hiểm và leo lên chiếc xe tay ga Vespa, với đôi giày Nike.

Khá ấn tượng? Nhưng hãy xem kỹ hơn và có thể bạn sẽ nhận ra một điều khác: Tất cả chỉ là hàng giả.

Năm 2018, hàng giả đã gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới 323 tỷ đô la. Việt Nam cũng không ngoại lệ, nơi các sản phẩm dùng hàng ngày như đồ điện tử, quần áo và thậm chí các sản phẩm y tế cũng có thể làm hàng giả, gây tác động đến hàng tỷ đô la.

Vấn đề này đặt ra câu hỏi về độ an toàn tiêu dùng. Ở nhà, thiết bị điện tử bị lỗi có thể phát nổ. Trong các nhà máy và ngoài đường, các bộ phận giả có thể bị hư hỏng nhanh hơn, dẫn đến các trục trặc nguy hiểm tiềm tàng.

Văn hóa giả

Việc thực thi thiếu hệ thống và mức phạt thấp đã làm trầm trọng thêm văn hóa giả mạo.

Các doanh nghiệp thường né tránh báo cáo các trường hợp giả mạo cho các cơ quan chức năng vì tin rằng làm như vậy sẽ làm giảm niềm tin của người tiêu dùng đối với thương hiệu của họ và làm giảm doanh số.

Bản thân người tiêu dùng Việt Nam rất nhạy cảm về giá song lại thờ ơ với tính xác thực, do đó, rất có thể họ sẽ không báo cáo hàng giả.

Trong khi các doanh nghiệp mờ ám thường hoạt động trực tuyến hoặc cung cấp địa chỉ giả, khiến chính quyền địa phương khó theo dõi.

Sự gia tăng của các sàn thương mại điện tử, nơi có những biện pháp ngăn chặn hàng giả còn thấp, tạo cơ hội cho những kẻ giả mạo gia nhập, đặt ra một thách thức khác cho các cơ quan quản lý.

Để giải quyết sự phổ biến của hàng giả, các bên cần phải hợp tác với nhau.

Cách Sendo phát hiện hàng giả

“Công nghệ là một giải pháp cho vấn đề này,” ông Nguyễn Phương Hoàng, CTO và đồng sáng lập công ty thương mại điện tử Sendo có trụ sở tại Việt Nam cho biết.

Công ty đã phát triển một hệ thống toàn diện để loại trừ những kẻ lừa đảo ở mức độ quy mô và đã thành lập một nhóm dành riêng cho nỗ lực này. Các chuyên gia chống giả, AI và các chuyên gia khoa học dữ liệu giúp nhận ra các định dạng gian lận mới và thực thi các chính sách.

Ông Nguyễn Phương Hoàng, CTO và đồng sáng lập Sendo

Chẳng hạn, các nhà bán lẻ trên Sendo, SenMall, đối với các sản phẩm có thương hiệu, phải trải qua quy trình sàng lọc nghiêm ngặt về giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận xuất xứ và phân phối sản phẩm. Điều này cho phép công ty thiết lập tính hợp pháp của doanh nghiệp và nguồn hàng.

“Hệ thống của chúng tôi tự động quét và kiểm tra thông tin, sau đó cảnh báo chúng tôi trong trường hợp sản phẩm có nguồn gốc không rõ ràng,” ông Hoàng cho biết.

Trí tuệ nhân tạo là điều cần thiết cho quá trình chống hàng giả của hãng.

Sàn thương mại điện tử Sendo có hàng triệu sản phẩm và hàng trăm ngàn thương nhân. Những người bán thiếu trung thực cố gắng bỏ qua quá trình giám sát bằng cách sử dụng ảnh sản phẩm có logo nhỏ từ các góc độ khác nhau và một loạt các biến thể từ khóa trong mô tả sản phẩm. Giám sát toàn bộ hệ thống bằng tay là hầu như không thể.

“Chúng tôi đã phát triển một hệ thống giám sát giả mạo toàn diện dựa trên các kỹ thuật tiên tiến trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên và thị giác máy tính” ông Hoàng giải thích.

Hệ thống có khả năng tự động nhận dạng hình ảnh sản phẩm có chứa logo thương hiệu bị cấm cũng như phân tích và phát hiện các biến thể có thể có của từ khóa bị cấm trong mô tả sản phẩm.

“Các mô hình AI của Sendo rất mạnh mẽ, đã được đào tạo trên hàng trăm ngàn hình ảnh sản phẩm và văn bản mô tả trên sàn này,” ông Hoàng cho biết.

Chẳng hạn, máy có thể phát hiện ra những khác biệt nhỏ giữa các cách viết khác nhau của thương hiệu chăm sóc cá nhân nổi tiếng của Nhật Bản Shiseido, chẳng hạn như “Shiseidoo”, “Shiiseido”, hay “Shi sei do” trong nhiều ngữ cảnh.

Một nhóm các chuyên gia cũng tiến hành kiểm soát liên tục đối với các danh mục có nguy cơ gian lận cao hơn. Những chuyên gia này có kinh nghiệm và kiến ​​thức về hàng hóa đích thực được bán và thường xuyên kiểm tra các tính năng, diện mạo và giá cả sản phẩm.

Người và máy tham gia lực lượng

Các hoạt động và công nghệ độc quyền của Sendo, đã giúp thanh lọc hàng giả và khuyến khích tăng trưởng tích cực.

Năm 2019, công ty cho biết họ đã ngăn chặn hàng ngàn vụ gian lận thương mại và vi phạm sở hữu trí tuệ trên nền tảng của mình. Như ông Hoàng chỉ ra, “90% hàng giả đã được phát hiện và ngăn chặn bởi công nghệ của chúng tôi.”

Để ghi nhận những nỗ lực của mình, công ty là đại diện thương mại điện tử Việt Nam duy nhất nhận được chứng nhận của Hiệp hội chống hàng giả quốc tế vì đã đóng góp cho việc bảo vệ thương hiệu và hỗ trợ người bán cũng như hợp tác với các nhà bán lẻ.

Sendo hiện đang giáo dục người tiêu dùng Việt Nam thông qua hoạt động với Bộ Công thương trong một chiến dịch chống hàng giả.

Sự phát triển xa hơn

Tiến về phía trước, Sendo sẽ tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để đi trước một bước so với các chiến thuật phát triển của những kẻ bán hàng giả.

Ngoài việc cải thiện hệ thống nhận diện và phát hiện hiện có, nhóm nghiên cứu AI của công ty đang xem xét việc phát hiện sớm những người bán hàng giả, dựa vào dữ liệu lớn để thu thập dữ liệu của người bán và đánh giá các hoạt động trong quá khứ và hiện tại của họ.

Khi thị trường thương mại điện tử Việt Nam phát triển, các sản phẩm chất lượng cao hơn có sẵn trên trực tuyến hơn và nhu cầu của khách hàng trở nên tinh vi hơn.

Các nhà sản xuất, nhà phân phối và người bán được chứng nhận của hàng hóa có thương hiệu giờ cũng sẵn sàng bán hàng trên trực tuyến nhiều hơn.

Là người tiên phong trong lĩnh vực thương mại điện tử Việt Nam đã định vị Sendo là một kỳ lân tiềm năng trong tương lai. Để thực hiện tiềm năng đó, công ty không ngừng nỗ lực để đảm bảo cho người dùng về tính xác thực và chất lượng sản phẩm.

Sendo đã sẵn sàng để nắm bắt sự tăng trưởng bền vững, mang lại cho người bán hàng xác thực doanh thu trong khi loại bỏ những kẻ bán hàng giả gây thiệt hại.

Minh Đức (Theo Nikkei)

Nhà cung cấp thông tin y tế M3 đã khai thác công nghệ trí tuệ nhân tạo của Tập đoàn Alibaba để phát triển hệ thống chẩn đoán có thể nhanh chóng xác định COVID-19 trong hình ảnh quét CT.

Hệ thống, đang chờ Bộ y tế phê duyệt, hứa hẹn sẽ là công cụ xét nghiệm bổ sung khi Nhật Bản đấu tranh để mở rộng năng lực xét nghiệm PCR (phản ứng chuỗi polymerase) đối với virus corona.

Kế hoạch là cung cấp hệ thống cho các bệnh viện ở Nhật Bản, sau đó sẽ mở rộng ra hàng trăm địa điểm. Các bệnh viện sẽ gửi các bản chụp cắt lớp vi tính đến hệ thống của M3, sau đó kết quả sẽ được gửi lại thể hiện khả năng nhiễm COVID-19 theo thang điểm từ 1 đến 5.

Công cụ chẩn đoán AI của Alibaba được sử dụng tại các bệnh viện ở Thượng Hải và tỉnh Hồ Bắc, bao gồm cả Vũ Hán. Công cụ này có thể xác định COVID-19 trong vòng khoảng 20 giây, chỉ bằng một phần 60 thời gian bác sĩ thường thực hiện, với độ chính xác lên đến 90% hoặc cao hơn, theo Alibaba.

Sony liên kết với M3 đã thử nghiệm AI của Alibaba tại Nhật Bản từ cuối tháng 3, bằng cách sử dụng các xét nghiệm PCR để xác nhận kết quả sàng lọc của AI. Hệ thống mới thực hiện phân tích chưa đầy một phút với độ chính xác cao, công ty Nhật Bản cho biết. Dữ liệu thu được bởi hệ thống sẽ được sử dụng độc quyền tại Nhật Bản.

Hình ảnh chụp CT của bệnh nhân COVID-19 hiển thị các tổn thương dạng kính mờ. Nhưng việc đọc hình ảnh có thể khó khăn ngay cả đối với các bác sĩ có tay nghề cao, vì “chỉ khoảng một nửa số bệnh nhân thể hiện rõ đặc điểm điển hình như vậy”, Junichi Matsumoto tại Đại học Y St. Maryna ở Nhật Bản cho biết.

Nhật Bản có xét nghiệm PCR dựa trên nước bọt được chiếu sáng màu xanh lá cây nhưng vẫn bị tụt hậu so với các nước khác về năng lực xét nghiệm. Khai thác nhóm máy quét CT để xác định viêm phổi do virus corona có thể giúp Nhật Bản chẩn đoán nhanh hơn, giúp điều trị cho bệnh nhân trước khi bị nặng.

AI đang đạt được xem như một công cụ chẩn đoán. Nhà cung cấp chẩn đoán hình ảnh Doctor Net, thành viên nhóm của nhà sản xuất máy Noritsu Koki, đã hợp tác với Công nghệ Thông tin Bắc Kinh, nơi phát triển hệ thống sàng lọc CT scan dựa trên AI để phát hiện COVID-19 đã được sử dụng ở Trung Quốc.

Các nhà phát triển AI y tế ở châu Âu đang bắt kịp với các đối thủ Trung Quốc. Siemens của Đức đã phát triển phần mềm hỗ trợ đọc CT scan cho bệnh nhiễm virus coronavirus dựa trên AI và cung cấp cho các tổ chức y tế trên toàn thế giới cho mục đích nghiên cứu.

Amazon.com cung cấp hỗ trợ tài chính cho các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu nhằm tăng cường các công nghệ liên quan đến virus corona bằng hệ thống điện toán đám mây của mình.

Thị trường toàn cầu về AI y tế dự kiến sẽ đạt 36 tỷ đô la vào năm 2025, tăng 17 lần so với năm 2018, theo công ty nghiên cứu thị trường tư nhân của thị trường Hoa Kỳ.

Khách hàng ở TP.HCM của hệ thống Co.opmart, Co.opXtra, Co.op Food… có thể thoải mái ngồi ở nhà, thông qua ứng dụng ví điện tử Momo, mà vẫn mua được vải thiều, gạo ST Xuân Hồng với những trải nghiệm tiêu dùng mới mẻ.

Ước tính gần 100.000 tấn vải cùng gạo ST sẽ được thí điểm tiêu thụ qua hình thức này trong chương trình “Ủng hộ nông sản Việt” kéo dài từ ngày 10 đến 30/6.

Ngồi nhà dễ dàng mua đặc sản

Ông Đỗ Quốc Huy – giám đốc Marketing Saigon Co.op, cho biết chương trình “Ủng hộ nông sản Việt” là hoạt động thiết thực mà nhà bán lẻ Việt Nam đồng hành và hỗ trợ đầu ra cho nông sản sau dịch. Ngoài ra, đây cũng là chương trình kích cầu tiêu dùng, hưởng ứng Ngày không tiền mặt 2020.

Chương trình “Ủng hộ nông sản Việt” lần đầu tiên được thực hiện trên nền tảng công nghệ hiện đại của Ví điện tử MoMo, không phải là cuộc giải cứu trái vải hay gạo ST mà tăng thêm hình thức mua sắm, giúp người tiêu dùng có thêm trải nghiệm trong mua sắm.

Theo đó, thông qua ứng dụng ví điện tử Momo, người tiêu dùng ở TP.HCM ngồi ở nhà hay bất cứ nơi đâu, không phải đến siêu thị vẫn có thể dễ dàng mua vải thiều hay gạo ST Xuân Hồng và được siêu thị giao hàng tận nơi trong vòng tối đa hai ngày với giá ưu đãi. Khách hàng cũng có thể đóng góp trực tiếp cho những hoạt động hỗ trợ người nông dân sau chiến dịch ngay trên giao diện của chương trình.

Cũng theo ông Huy, việc chọn trái vải để kích hoạt cho chương trình hỗ trợ nông sản và khuyến khích thanh toán không tiền mặt là một lựa chọn phù hợp. Bởi tháng 6 là mùa thu hoạch trái vải, một trong những loại trái cây được người Việt rất ưa thích.

“Nếu mình có hình thức mua sắm tiện lợi, người mua hàng có thể yên tâm ở nhà và được giao những trái vải chất lượng thì họ sẵn sàng trải nghiệm ngay”, ông Huy tự tin.

Từ nhiều năm nay, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn luôn đánh giá Saigon Co.op là kênh tiêu thụ nông sản đặc sản phía Bắc tại thị trường miền Nam hiệu quả nhất. Năm nay, thị trường đầu ra trái vải thiều dự kiến gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng dịch COVID-19, khiến cho thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc khó khơi thông ngay. Vì vậy mùa vải năm nay nguy cơ bị dội hàng là rất lớn.

Vì thế, việc đưa nông sản Việt trước mắt với vải thiều sẽ tạo sự lan tỏa tốt hơn, đầu ra thiết thực hơn cho trái vải. Chương trình sẽ không dừng lại ở mặt hàng vải thiều mà sẽ có thêm gạo và nhiều nông sản địa phương khác lần lượt được giới thiệu đến người tiêu dùng trên nền tảng ví điện tử này.

“Không nhà phân phối nào mong muốn mỗi khi nông sản Việt Nam vào mùa lại phải nhắc đến “giải cứu” vì giá trị nông sản Việt rất lớn. Mỗi địa phương có đặc sản khác nhau, trái ngon đa dạng, Saigon Co.op sẽ lần lượt lựa chọn những nông sản này để có chương trình hỗ trợ, tạo đầu ra tốt hơn”, ông Huy khẳng định.

Thúc đẩy thanh toán không tiền mặt, người dùng nhiều ưu đãi

Đại diện Saigon Co.op cũng chia sẻ thêm, thực tế không đợi đến dịch bệnh, từ 3 năm qua, Saigon Co.op đã hỗ trợ tiêu thụ vải thiều ở Bắc Giang. Năm nay tùy vào sức mua của thị trường mà nhà bán lẻ sẽ nhập hàng, nhưng những người tổ chức chương trình kỳ vọng sẽ có 100.000 tấn vải được tiêu thụ trong mùa vải năm nay.

“Còn với gạo ST thì lần đầu tiên thử nghiệm nhưng chúng tôi tin tưởng sẽ đạt được kết quả tốt, hỗ trợ bà con nông dân nhờ khuyến khích mua hàng không tiền mặt”, ông Huy nói.

Bằng việc tăng cường áp dụng phương thức thanh toán điện tử trên hệ thống siêu thị phân bổ rộng khắp Việt Nam, Saigon Co.op cùng các đối tác của mình góp phần quan trọng trong việc hạn chế sử dụng tiền mặt, giúp các giao dịch thường nhật của hàng chục triệu người tiêu dùng Việt Nam được nhanh chóng, an toàn và tiện lợi, cũng như giảm tải việc kiểm đếm, bảo quản và vận chuyển tiền mặt cho chính doanh nghiệp.

Từ năm trước, Saigon Co.op bắt tay MoMo chính thức ký kết hợp tác chiến lược đẩy mạnh số hóa trên hệ thống siêu thị Co.opmart, Co.opXtra, Co.op Food… và trở thành nhà bán lẻ đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng công nghệ số trên diện rộng. Theo đó, MoMo hiện nay chính thức là ví điện tử duy nhất chấp nhận tại quầy thanh toán trên toàn hệ thống của Saigon Co.op.

Hai bên cũng cam kết sẽ tiếp tục phối hợp triển khai hàng loạt các dịch vụ, ứng dụng mới trên nền tảng công nghệ nhằm mang đến cho người tiêu dùng những trải nghiệm mua sắm hiện đại hết sức tiện lợi và an toàn, phù hợp với xu hướng. Đồng thời cũng sẽ phối hợp xây dựng các chương trình hoạt động vì cộng đồng (CSR), hướng tới sự phát triển chung của xã hội, đặc biệt là đối tượng nông dân, người cao tuổi và trẻ em.

Ông Đỗ Quốc Huy cho biết mới đây Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại TP.HCM (Saigon Co.op) tiếp tục phối hợp cùng các ngân hàng, các tổ chức thanh toán trung gian và ví điện tử đưa ra nhiều chương trình ưu đãi dành riêng cho khách hàng của hệ thống siêu thị trên cả nước.

Theo Tuổi Trẻ

Nguồn: https://tuoitre.vn/saigon-coop-tiep-thi-nong-san-tren-nen-tang-vi-dien-tu-20200603174656666.htm

Quỳnh Chi (Theo CNBC)

Facebook đã đầu tư vào công ty cung cấp thực phẩm và giao hàng thực phẩm của Indonesia, Gojek.

Gã khổng lồ công nghệ Hoa Kỳ không muốn tiết lộ quy mô đầu tư khi được CNBC liên hệ, nhưng trong một bài đăng trên blog vào tối thứ Ba Facebook cho biết họ sẽ nỗ lực giúp đưa các doanh nghiệp nhỏ lên mạng.

Gojek cũng từ chối tiết lộ quy mô đầu tư của Facebook.

Khoản đầu tư này sẽ hỗ trợ Facebook và Gojek, chia sẻ mục tiêu trao quyền cho các doanh nghiệp và thúc đẩy tài chính trên toàn quần đảo này, Matt Idema, giám đốc điều hành WhatsApp, cho biết trong bài đăng trên blog.

“WhatsApp sẽ giúp các doanh nghiệp nhỏ giao tiếp với khách hàng và bán hàng, cùng với Gojek, chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể đưa hàng triệu người vào nền kinh tế kỹ thuật số đang phát triển của Indonesia.” Idema cho biết

Gojek cho biết PayPal cũng tham gia vào vòng cấp vốn hiện tại cùng với Facebook. Khoản đầu tư từ hai gã khổng lồ công nghệ Hoa Kỳ cũng như các nhà đầu tư khác sẽ giúp Gojek tăng cường dịch vụ thanh toán và tài chính trong khu vực, công ty cho biết.

“Khi làm việc cùng nhau, chúng tôi có cơ hội đạt được kết quả thực sự độc đáo khi hướng đến việc giúp nhiều doanh nghiệp số hóa hơn và đảm bảo hàng triệu người tiêu dùng được hưởng lợi từ những lợi ích mà nền kinh tế kỹ thuật số có thể mang lại,” Andre Soelistyo, giám đốc điều hành của Andre Gojek cho biết.

Gojek cho biết sự hợp tác với PayPal sẽ cho phép người dùng ví kỹ thuật số GoPay, truy cập vào mạng lưới của công ty này gồm hơn 25 triệu thương nhân trên toàn thế giới.

PayPal đã không đưa ra nhận xét về quy mô đầu tư của mình.

Khoản đầu tư của Facebook vào Gojek sau khoản đầu tư trị giá 5,7 tỷ đô la mà gã khổng lồ mạng xã hội đã thực hiện vào tháng 4 tới Ấn Độ. Nền tảng Jio – công ty kỹ thuật số của tập đoàn Reliance Industries của Ấn Độ, thuộc sở hữu của tỷ phú Mukesh Ambani.

Khoản đầu tư đó đã mang lại cho mạng xã hội này 9,99% cổ phần của nền tảng Jio với giá trị doanh nghiệp tiền mặt là 65,95 tỷ đô la.

Cả Ấn Độ và Indonesia đều có dân số lớn đang trực tuyến. Họ mang đến cơ hội quý giá cho các công ty công nghệ toàn cầu như Facebook để xây dựng các dịch vụ thương mại cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, đặc biệt thông qua dịch vụ nhắn tin phổ biến WhatsApp.

Nền kinh tế internet của Indonesia là nền kinh tế lớn nhất và phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á, theo một báo cáo năm ngoái của Google và Temasek, quỹ đầu tư nhà nước Singapore và công ty tư vấn Bain & Company.

Quốc gia này đang trên đà vượt 130 tỷ đô la vào năm 2025 và được thiết lập để hưởng lợi từ việc áp dụng thanh toán kỹ thuật số ngày càng tăng, báo cáo cho biết. Nền kinh tế internet nói chung của Đông Nam Á dự kiến ​​sẽ đạt 300 tỷ đô la vào năm 2025.

Gojek đã có một số nhà đầu tư nổi bật như Google, Temasek và gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc Tencent. Công ty khởi nghiệp của Indonesia có mức định giá 10 tỷ đô la, theo CB Insights và đã huy động vốn 1,2 tỷ đô la trong tháng 3, các báo cáo cho biết.

Công ty này cạnh tranh với Grab có trụ sở tại Singapore ở Đông Nam Á trên các lĩnh vực như thuê xe, thanh toán và giao đồ ăn. Cả hai công ty đều nói rằng họ đặt mục tiêu trở thành ứng dụng siêu cấp hàng đầu ở khu vực, nơi có nhiều dịch vụ được tích hợp vào một ứng dụng.

Nguyễn Trang (Theo Nikkei)

Một công nhân đóng gói các lọ vaccine bại liệt trong nhà máy của Bio Farma: công ty là nhà sản xuất vaccine lớn nhất ở Đông Nam Á

Indonesia, Thái Lan và Việt Nam có ngành dược phẩm thành công

Các nước phát triển có truyền thống coi Đông Nam Á là người thụ hưởng, không phải là người đóng góp cho hệ thống quốc tế vì khả năng phục hồi kinh tế kém và khả năng vật chất khan hiếm của khu vực. Đương nhiên, sau đó, những người hoài nghi coi khu vực này là một con vịt què trong cuộc chiến toàn cầu chống lại COVID-19. Thế nhưng, khu vực này đã sẵn sàng để chứng minh các nước phát triển đã sai.

Đông Nam Á có hai nhà sản xuất vaccine lớn nhất thế giới, Indonesia và Thái Lan. Thái Lan là ứng cử viên hàng đầu của khu vực trong cuộc đua vaccine: tháng trước tuyên bố nguyên mẫu vaccine của họ đã sản xuất thành công kháng thể ở chuột. Nguyên mẫu sẽ sớm trải qua thử nghiệm trên người để xem liệu có thể sản xuất một loại vaccine khả thi hay không.

Thái Lan bắt đầu phát triển vaccine vào năm 1953, sản xuất vaccine BCG, được sử dụng để ngăn ngừa bệnh lao, tiêu thụ tại địa phương.

Trong Chỉ số an ninh sức khỏe toàn cầu năm ngoái, Thái Lan nổi lên là quốc gia châu Á được chuẩn bị tốt nhất để ngăn chặn, phát hiện và ứng phó với dịch bệnh, đứng thứ sáu trên thế giới.

Trên thực tế, các bệnh viện Thái Lan là một trong những bệnh viện đầu tiên điều trị cho bệnh nhân COVID-19 sử dụng thuốc chống HIV, một chiến lược hiện đang được thử nghiệm rộng hơn.

Theo sát Thái Lan là quốc gia đông dân nhất khu vực, Indonesia. Đầu tháng 5, Viện Sinh học phân tử Eijkman đã hoàn thành ba trình tự bộ gen của chủng virus corona, có thể tăng tốc độ truy tìm nguồn gốc.

Nhà sản xuất vaccine nhà nước Bio Farma đã mời Liên minh Đổi mới chuẩn bị dịch bệnh và một công ty dược phẩm sinh học Trung Quốc hợp tác trong dự án này.

Bio Farma là nhà sản xuất vaccine lớn nhất ở Đông Nam Á, có khả năng sản xuất hai tỷ liều mỗi năm và năm 2016, họ đã xuất khẩu hai phần ba số vaccine bại liệt trên thế giới. Giả sử sáng kiến ​​COVID-19 của Indonesia hiện thực hóa: Chỉ riêng Bio Farma có thể phục vụ cho nhu cầu vaccine của toàn khu vực.

Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á khác có khả năng tự cung cấp vaccine vượt trội. Việt Nam đã loại trừ bệnh bại liệt vào năm 2000 và uốn ván vào năm 2005 thông qua tiêm chủng hàng loạt.

Năm 2013, nhà sản xuất vaccine của nhà nước đã sản xuất hàng loạt vaccine chỉ trong sáu tháng, sử dụng các kỹ thuật do Nhật Bản phát triển, để ngăn chặn dịch sởi, và ba năm sau đó, Việt Nam trở thành quốc gia châu Á thứ tư sản xuất sởi-rubella kết hợp vắc-xin.

Với vaccine MR, Việt Nam đã có thể sản xuất 11 trong số 12 loại vaccine cần thiết cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng năm 2017.

Bác sĩ và y tá đang chăm sóc một bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện Tưởng niệm Vua Chulalongkorn ở Bangkok vào ngày 22/4

Phản ứng nhanh chóng của Việt Nam để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19, cho đến nay không có ca tử vong nào đã giành được lời khen ngợi từ Tổ chức Y tế Thế giới và Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ.

Hiện Việt Nam đang lên kế hoạch một thử nghiệm trên người để kiểm tra hiệu quả của vaccine BCG trong việc ngăn ngừa nhiễm COVID-19.

Tham vọng của Việt Nam là sản xuất vaccine COVID-19 tại địa phương là điều tự nhiên, trước đây thường do các nước giàu hơn khai thác. Các công ty dược phẩm ở các nước phát triển thường có được các mẫu virus miễn phí từ được các nước nghèo hơn chia sẻ miễn phí với Tổ chức Y tế Thế giới.

Các công ty này sau đó sản xuất, lấy bằng sáng chế và lợi nhuận từ vaccine mà không chia sẻ lợi ích với quốc gia chia sẻ. Năm 2007, điều này đã khiến chính phủ Indonesia tranh chấp với một công ty Australia sản xuất vaccine cúm gia cầm bằng chủng H5N1 của Indonesia. Indonesia thậm chí tạm thời ngừng chia sẻ các mẫu virus với WHO.

Bất chấp nghị quyết từ Hội đồng Y tế Thế giới, cơ quan quản lý của WHO, các nước giàu hơn đã từ chối giữ đúng thỏa thuận cho đến cùng. Năm 2009, họ đã tích trữ vaccine H1N1, tước đi quyền tiếp cận công bằng với phương pháp chữa bệnh của các quốc gia nghèo. Các nước Đông Nam Á nhận ra rằng họ phải tự lực trong sản xuất vaccine để tồn tại.

Các quốc gia này đã không từ bỏ các cam kết đa phương hoàn toàn. Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Philippines đang tham gia Thử nghiệm Đoàn kết của WHO, một thử nghiệm trên toàn thế giới về bốn phương pháp điều trị COVID-19 tiềm năng.

Malaysia đã đề nghị trở thành một trung tâm nghiên cứu cho các quốc gia khác để tiến hành thử nghiệm lâm sàng đối với các ứng cử viên vaccine của họ.

Các nước giàu hơn đảm bảo rằng sự hợp tác với các công ty nước ngoài phục vụ lợi ích quốc gia. Ví dụ, sự hợp tác của Singapore với một công ty Mỹ để phát triển vaccine COVID-19 đảm bảo quyền sử dụng vaccine của họ, đồng thời cho phép công ty thu lợi nhuận bằng cách tiếp thị vaccine trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, các quốc gia kém phát triển nhất trong khu vực như Campuchia và Lào vẫn bị loại trừ khỏi các phát triển này. Một số phân khúc dân số dễ bị mắc các bệnh có thể phòng ngừa bằng vaccine. Ví dụ, năm ngoái, một đợt bùng phát đột ngột của bệnh cúm đã tấn công các bộ lạc trên đồi bản địa sống ở các tỉnh phía bắc Lào. Thái Lan bước vào bằng cách nhanh chóng gửi thuốc chống cúm sang Lào.

Minh Anh (Theo Retail News)

Doanh số bán lẻ của Việt Nam chỉ giảm 4% trong năm tháng đầu năm nay, mặc dù đã ngừng hoạt động 4 tuần do khủng hoảng Covid-19.

Theo Tổng cục Thống kê (GSO), doanh thu bán lẻ đạt hơn 82,36 tỷ đô la từ tháng 1 đến tháng 5.

Các cửa hàng không cần thiết trên toàn quốc đã đóng cửa từ cuối tháng 3 đến tháng 4, chỉ có các siêu thị và nhà thuốc được phép tiếp tục giao dịch. Tuy nhiên, trong suốt thời gian đóng cửa, tất cả các nhà bán lẻ đều được phép bán hàng trực tuyến.

Tháng 5, sau khi các biện pháp hạn chế được dỡ bỏ, doanh số bán lẻ tại Việt Nam đã tăng 27% so với số liệu của tháng 4.

Doanh số bán hàng tiêu dùng chiếm 80,6% doanh thu bán lẻ, tăng 1,2% so với năm trước.

Các lĩnh vực tăng trưởng bao gồm các sản phẩm thực phẩm tươi sống và thiết bị gia dụng trong khi các sản phẩm giáo dục và hàng may mặc giảm lần lượt là 8.2% và 3%

Mặc dù các nhà hàng và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ăn uống khác đã hoạt động trở lại, doanh số F & B năm tháng đầu năm nay đã giảm 26%

Quỳnh Chi (Theo AFP)

Moe Myint May Thu đã đánh thức mọi người ở Myanmar bằng kỹ năng nấu ăn của mình

Từ súp cá trê đến ếch chiên cay, một cô bé tám tuổi ở Myanmar mặc đồ ngủ và đội mũ đầu bếp đang làm mọi người thích thú với năng lực nấu nướng của mình khi quốc gia này vẫn thực hiện các biện pháp cách ly do đại dịch virus corona.

Mẹ của Moe Myint May Thu đã đăng một video lên mạng vào cuối tháng 4, thể hiện kỹ năng của con gái mình khi cô bé đang làm món tôm chiên cay.

Với nụ cười toe toét, video đã được tung lên khắp các phương tiện truyền thông xã hội và cô bé đã trở thành ngôi sao với biệt danh trên mạng “Đầu bếp nhí.”

Hiện cô bé bán các món ăn và đang có lãi.

“Cháu chỉ thích nấu ăn,” cô bé nói với AFP, khi đang nghỉ ngơi trong phòng bếp của một căn hộ ở Yangon.

“Chúng cháu vui vẻ nấu ăn cùng nhau trong thời gian phải ở nhà,” cô bé nói, thêm vào đó cô bé muốn biến niềm đam mê của mình thành sự nghiệp khi lớn.

Trong video phổ biến nhất có gần 200.000 lượt xem, ngôi sao trẻ mặc áo phông có hình kỳ lân khi đang hướng dẫn cách làm món Mohingya yêu thích trong bữa sáng ở Myanmar, được chế biến với cá trê.

Moe Myint May Thu nấu thành thạo 15 món ăn

Moe Myint May Thu thành thạo nấu 15 món ăn như cà ri cá cà chua, thịt lợn hầm và ếch chiên cay.

Mỗi món ăn được bán với mức giá 10.000 kyat (7,20 đô la) và được gia đình giao vào cuối mỗi ngày, toàn bộ hoạt động được thực hiện dưới sự hướng dẫn đầy kinh nghiệm của người mẹ, cũng là người có ảnh hưởng trên mạng xã hội, Honey Cho.

“Tôi rất vui khi thấy rất nhiều người từ Myanmar và các quốc gia khác chia sẻ video của mình”, mẹ cô bé nói thêm rằng sự tự tin của con gái cô đã tăng lên.

Các clip của đầu bếp nổi tiếng ban đầu được đăng trên các trang truyền thông xã hội của mẹ cô bé, nhưng hiện được phát trực tiếp trên tài khoản Facebook của chính cô, đạt được 8.000 lượt thích chỉ sau bốn ngày.

hoạt động nấu ăn của cô bé được thực hiện dưới sự hướng dẫn đầy kinh nghiệm của người mẹ, cũng là người có ảnh hưởng trên mạng xã hội, Honey Cho

“Cô bé thật đáng yêu đến nỗi tôi cứ mất dần sự chú ý và phải xem lại video của cô bé”, người hâm mộ Pohnt Pohnt bình luận.

Moe Myint May Thu có kế hoạch tiếp tục nấu ăn cho đến khi bắt đầu đi học vào tháng 8, muộn hơn hai tháng so với kế hoạch do đại dịch virus corona.

Thủ đô thương mại Yangon đang trở lại bình thường mặc dù chính quyền vẫn hối thúc mọi người ở nhà.

Myanmar đã ghi nhận 228 trường hợp nhiễm virus với sáu ca tử vong.

Ngân Hà (Theo AFP)

Google đã từ chối yêu cầu trả hàng trăm triệu đô la mỗi năm cho các phương tiện truyền thông của Australia theo thỏa thuận chia sẻ doanh thu do chính phủ áp đặt.

Giám đốc điều hành hàng đầu của Google tại Australia cho biết, Google kiếm được gần 10 triệu đô la Australia (6,7 triệu đô la Mỹ) mỗi năm từ quảng cáo liên kết tin tức, một phần trong ước tính của cơ quan giám sát chính phủ về lĩnh vực này.

Trong một nỗ lực đang được quan tâm trên khắp thế giới, Australia chuẩn bị tiết lộ kế hoạch buộc các công ty internet lớn chia sẻ doanh thu quảng cáo mà họ kiếm được từ các tin tức có trong dịch vụ của họ.

Cơ quan quản lý cạnh tranh của Australia, ACCC ước tính Google và Facebook cùng nhau kiếm được 6 tỷ đô la Australia (tương đương 4 tỷ đô la Mỹ) mỗi năm từ quảng cáo ở nước này.

Các nhà xuất bản tin tức hàng đầu đã yêu cầu hai công ty này trả ít nhất 10% số tiền đó mỗi năm cho các tổ chức tin tức địa phương, bởi theo các đơn vị xuất bản tin tức, họ đã mất phần lớn doanh thu quảng cáo cho gã khổng lồ công nghệ toàn cầu.

Mel Silva, giám đốc điều hành của Google tại Australia đã bác bỏ những con số như vậy là phi thực tế.

“Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng tin tức chất lượng cao có giá trị xã hội lớn, nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu về kinh tế”, Silva nói trong một bài đăng trên blog vào Chủ nhật.

Cô cho biết Google năm ngoái chỉ kiếm được 10 triệu đô la doanh thu từ các lần nhấp vào quảng cáo được đặt bên cạnh các tìm kiếm liên quan đến tin tức.

“Phần lớn doanh thu của chúng tôi không đến từ các tìm kiếm tin tức, mà từ các tìm kiếm với mục đích thương mại, như khi ai đó tìm kiếm” giày chạy bộ “và sau đó nhấp vào quảng cáo”, cô nói.

Silva cũng phủ nhận lập luận của ACCC rằng các công ty công nghệ đạt được “lợi ích gián tiếp” đáng kể từ việc hiển thị tin tức vì nội dung thu hút người dùng đến nền tảng của họ.

Tin tức “chỉ đại diện cho một số lượng nhỏ các tìm kiếm” trên Google, năm ngoái chỉ chiếm 1% các hành động tìm kiếm trên Google tại Australia, cô nói.

Cắt giảm công việc

Giám đốc điều hành Google cho biết, mặt khác, công ty đã cung cấp cho các phương tiện truyền thông tin tức của Australia giá trị “đáng kể” bằng cách gửi người truy cập trang web của họ.

“Nói một cách rõ ràng, rất nhiều người (người Australia và hơn thế nữa) nhấp chuột từ Google thông qua các trang web tin tức của Australia, điều này mang lại cho các nhà xuất bản cơ hội kiếm tiền bằng cách hiển thị quảng cáo hoặc biến những người này thành người đăng ký trả tiền”, cô nói.

Tìm kiếm của Google chiếm 3,44 tỷ lượt truy cập vào các nhà xuất bản tin tức lớn và nhỏ của Australia vào năm 2018, định giá những lượt giới thiệu ở mức hơn 200 triệu đô la Australia mỗi năm cho các công ty tin tức.

Quan điểm của Google báo hiệu một kết quả không mấy khả quan của các cuộc đàm phán mà ACCC hy vọng sẽ theo đuổi giữa Google, Facebook và các công ty truyền thông Australia về một “quy tắc ứng xử” bắt buộc đối với các vấn đề như chia sẻ doanh thu, hạn chế thông tin và bảo vệ quyền riêng tư của người dùng.

Tháng trước, cơ quan quản lý đề nghị các nhà xuất bản Australia có thể cần tổ chức một cuộc “tẩy chay tập thể” đối với Google và Facebook nếu các cuộc đàm phán tự nguyện về quy tắc ứng xử thất bại.

Silva cho biết Google đã chuẩn bị tham gia vào quá trình này, nhưng nói thêm rằng “điều quan trọng là phải đưa ra quyết định dựa trên các sự kiện, không phải là con số không chính xác và các xác nhận vô căn cứ”.

ACCC ra hạn đến cuối tháng 7 để đưa ra quy tắc cuối cùng, mà chính phủ đã tuyên bố sẽ nhanh chóng thực hiện.

Google và Facebook đã có tác động rất lớn đến các công ty truyền thông trên toàn cầu khi họ chiếm phần lớn chi tiêu quảng cáo trực tuyến.

Để đối phó với doanh thu giảm, trầm trọng hơn do tác động kinh tế của đại dịch virus corona, các hãng truyền thông ở Australia đã phải đóng cửa vĩnh viễn hoặc tạm thời hơn 150 phòng tin tức, cắt giảm hơn 20% việc làm trong lĩnh vực này kể từ năm 2014.