TS. Nguyễn Đức Kiên: NHNN đã kiên định không nghe nghiên cứu một chiều

Category: Kinh tế, Tài chính tgo-1

Theo TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, tuy tốc độ tăng trưởng không đạt như kỳ vọng, song những vấn đề cơ bản, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế đã đạt được.

TS. Nguyễn Đức Kiên
TS. Nguyễn Đức Kiên

Nếu “chấm điểm” cho công tác điều hành của NHNN trong 7 tháng đầu năm, ông sẽ cho điểm cao nhất ở lĩnh vực nào?

Tôi đánh giá NHNN đã có 3 thành công lớn trong công tác điều hành 7 tháng đầu năm 2016. Trong đó điểm sáng nhất là góp phần lớn tạo ra sự phối hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá, biểu hiện ở việc hệ thống Kho bạc Nhà nước đã phát hành trái phiếu Chính phủ thuận lợi. Có thể nói ít khi phát hành trái phiếu Chính phủ thuận lợi như 6 tháng đầu năm nay, mặc dù tốc độ phát tiển kinh tế không cao song vẫn phát hành hết theo kế hoạch.

Mặt khác, kỳ hạn của trái phiếu Chính phủ dài hơn cũng góp phần làm cho kỳ hạn trái phiếu trong nợ công đã vượt qua mức 5 năm, với lãi suất hạ xuống 6-7%/năm cũng là rất tốt. Còn như thời kỳ 2012-2014, trái phiếu phát hành với kỳ hạn chỉ có 3 năm mà lãi suất lên đến 9%/năm, khiến tình hình vay trả nợ căng thẳng. Đây là sự phối kết hợp rất tốt, góp phần quan trọng giúp cho tình hình huy động vốn để đảm bảo tăng trưởng của nền kinh tế không còn căng thẳng như mọi năm.

Có thể thấy rằng NHNN đã chủ động và sẵn sàng thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để thị trường “xông xênh” nhất và nhu cầu đầu tư dài hạn xuất hiện ở thời điểm này, vì vậy khi bán ra mới kéo dài được kỳ hạn và hạ lãi suất như vậy.

Còn 2 thành công khác trong điều hành chính sách của NHNN mà ông vừa đề cập tới là gì, thưa ông?

Điểm sáng thứ 2 cũng bắt nguồn từ hiệu ứng tích cực của việc phối hợp tốt giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá như tôi đã nói ở trên. Lãi suất của trái phiếu Chính phủ gần như định hình lãi suất trên thị trường. Hầu như các TCTD đều nhìn vào đó để điều hành mặt bằng lãi suất của họ.

Vì vậy lãi suất trái phiếu Chính phủ xuống cũng giữ cho lãi suất trên thị trường không tăng. Đây là tác động vòng 2 của chính sách điều hành trên thị trường. Nhờ đó đến thời điểm hiện nay chúng ta cũng đã đảm bảo được tín dụng cho nền kinh tế, không bị bóp nghẽn lại giống năm 2011 hay cũng không có những chính sách ồ ạt mở ra như năm 2009. Như vậy công tác điều hành chính sách tiền của hệ thống NH với chính sách huy động và cho vay, giữa điều hành trên thị trường 2 với kết hợp cung tiền đã khá hài hoà.

Thành công thứ 3 là giữ vững ổn định tỷ giá gữa VNĐ với USD. Chúng ta đều biết 6 tháng đầu năm 2016, có nhiều lo ngại trong dư luận là FED sẽ tăng lãi suất, nhưng thực chất đến nay cơ quan này vẫn chưa điều chỉnh. Bên cạnh đó là ảnh hưởng tâm lý rất lớn từ sự kiện Brexit (người dân Anh bỏ phiếu rời EU). Trong bối cảnh đó điều hành chính sách tỷ giá luôn có những động thái nắm bắt tình hình trong nước, có tham chiếu với các đồng tiền khác như USD, Euro, Yên… để có chính sách hợp lý nhằm hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Đó là điểm tích cực.

Điều này có thể nhìn thấy ở tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm của Việt Nam vẫn cao hơn các nước trong khu vực. Giá trị đồng tiền Việt Nam được giữ vững cũng phản ánh tương đối chính xác mục tiêu xây dựng nền kinh tế, duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững mà chúng ta đang hướng tới.

Những tháng đầu năm chúng ta cũng chứng kiến rất nhiều sự kiện tác động tới tâm lý thị trường, cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn tới điều hành chính sách. Ông đánh giá thế nào về phản ứng của NHNN trước những sự kiện này?

Tôi cho rằng NHNN đã thể hiện phong thái đĩnh đạc trong điều hành, không vì những biến động trên thị trường thế giới và trong nước mà phải chạy theo điều chỉnh chính sách. Sự kiên định này đã góp phần lớn tạo nền tảng ổn định vĩ mô.

Điển hình như sự kiện Brexit là điểm nhấn trong 6 tháng đầu năm 2016 để các “con cá mập” tài chính tận dụng nhằm tạo lợi nhuận. Thế nhưng phải lưu ý rằng đó là ở thị trường EU, Pháp, Đức và một số nước khác đang có khối lượng giao dịch lớn liên quan tới đồng bảng Anh.

Còn với Việt Nam, chúng ta hiện nay đang xuất siêu sang Anh với khối lượng kim ngạch không quá nhiều, không chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng xuất khẩu sang EU. Cho nên khi Brexit diễn ra thì tác động trực tiếp do quan hệ thương mại giảm đi của Việt Nam và Anh đến thời điểm này gần như chưa thấy. Đây cũng là lý do mà ngay từ khi sự kiện diễn ra cho tới nay chúng ta vẫn kiên trì giữ ổn định tỷ giá VNĐ so với Euro và so với một số đồng tiền trong khu vực là hợp lý.

Cũng cần phải kể đến sự kiên định trong việc loại vàng ra khỏi thị trường như một công cụ thanh toán. Đặt biệt trong tháng 6 và nửa đầu tháng 7, NHNN chịu áp lực lớn trước đề xuất “huy động 500 tấn vàng trong dân”, song đã kiên trì đường lối ổn định kinh tế vĩ mô, tôn trọng quyền sở hữu và quyền tài sản của công dân nhưng vẫn đảm bảo điều hành nền kinh tế phát triển bền vững. NHNN đã kiên định khi không nghe những nghiên cứu một chiều để buộc phải điều hành theo.

Ông có khuyến nghị gì cho công tác điều hành của NHNN trong những tháng cuối năm?

Có một điều mà các DN và nhiều người làm chính sách như tôi vẫn mong muốn là việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong những tháng còn lại của năm 2016 phải tiếp tục đặt ra mục tiêu làm thế nào để hạ lãi suất cho vay xuống.

Qua kinh nghiệm điều hành của những tháng đầu năm, chúng ta thấy rằng không phải tất cả các dự báo đều phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế. Không phải tất cả các ý kiến của chuyên gia đều phù hợp với mục tiêu chiến lược của NHTW là đảm bảo giá trị của VNĐ. Nhiều ý kiến khi đề xuất là nghĩ đến để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng thì phải chấp nhận gây áp lực lên đồng tiền. Nhưng nếu điều hành theo hướng phát triển bền vững, tức là chấp nhận tốc độ tăng trưởng như nó vốn có để tái cơ cấu nền kinh tế thì áp lực của nó lên thị trường tiền tệ sẽ khác. Đúng là nếu để đảm bảo tăng trưởng, cung tiền mạnh ra thị trường thì áp lực lãi suất rất lớn. Nhưng nếu đổi lại mục tiêu, không vì áp lực tăng trưởng nữa, thì sức ép lên lãi suất đâu còn lớn nữa. Ở đây tôi muốn nói đến tăng trưởng của nền kinh tế thực chứ không phải là tăng trưởng của nền kinh tế trên thị trường tài chính.

Nhìn lại năm 2009 khi chúng ta bơm tiền ra vượt quá khả năng hấp thụ của nền kinh tế thì mới dẫn đến lạm phát của năm 2009-2010 lên tới 2 con số, còn nếu chúng ta bơm ra phù hợp, đảm bảo cung cầu hợp lý, tăng trưởng phù hợp với sức khoẻ nên kinh tế thì không thể gây ra lạm phát được.

Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Việt lược ghi

loading...
loading...

Related Articles

Add Comment