Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 với 19 tiêu chí

Category: Thời sự, Trong nước tgo-1

Trong 19 tiêu chí, nhóm Quy hoạch có 1 tiêu chí (1- Quy hoạch); nhóm Hạ tầng kinh tế – xã hội có 8 tiêu chí (2- Giao thông; 3- Thủy lợi; 4- Điện; 5- Trường học; 6- Cơ sở vật chất văn hóa; 7- Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; 8- Thông tin và truyền thông; 9- Nhà ở dân cư); nhóm Kinh tế và tổ chức sản xuất có 4 tiêu chí (10- Thu nhập; 11- Hộ nghèo; 12- Lao động có việc làm; 13- Tổ chức sản xuất); nhóm Văn hóa – Xã hội – Môi trường có 6 tiêu chí (14- Giáo dục và Đào tạo; 15- Y tế; 16- Văn hóa; 17- Môi trường và an toàn thực phẩm; 18- Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; 19- Quốc phòng và an ninh).

Với mỗi tiêu chí, Quyết định quy định cụ thể chỉ tiêu chung cũng như chỉ tiêu theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ; Duyên hải Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong đó, tiêu chí giao thông gồm các nội dung: Đường xã và đường từ trung tâm xã đến đường huyện được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm; đường trục thôn, bản, ấp và đường liên thôn, bản, ấp ít nhất được cứng hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm; đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa; đường trục chính nội đồng đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm. UBND cấp tỉnh quy định cụ thể để phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế, nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo tính kết nối của hệ thống giao thông trên địa bàn.

Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Ảnh: Thanh Hà - TTXVN
Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Ảnh: Thanh Hà – TTXVN

Về thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020, chỉ tiêu chung là từ 45 triệu đồng/người trở lên; còn đối với vùng Trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung bộ là từ 36 triệu đồng/người trở lên; vùng Đồng bằng sông Hồng là từ 50 triệu đồng/người trở lên; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên là từ 41 triệu đồng/người trở lên; vùng Đông Nam Bộ là từ 59 triệu đồng/người trở lên; Đồng bằng sông Cửu Long là từ 50 triệu đồng/người trở lên.

Còn về tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020, chỉ tiêu chung là từ 6% trở xuống. Chỉ tiêu theo vùng đối với vùng Trung du miền núi phía Bắc là từ 12% trở xuống; vùng Đồng bằng sông Hồng từ 2% trở xuống; vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ từ 5% trở xuống; Tây Nguyên từ 7% trở xuống; vùng Đông Nam Bộ từ 1% trở xuống và Đồng bằng sông Cửu Long từ 4% trở xuống.

Tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm gồm các nội dung: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định; tỷ lệ cơ sở sản xuất – kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường; xây dựng cảnh quan, môi trường xanh – sạch – đẹp, an toàn; mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch; chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất – kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định; tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch (sạch nhà, sạch bếp, sạch ngõ); tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường; tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm.

Tiêu chí hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật có 6 nội dung: Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn; có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; tổ chức chính trị – xã hội của xã đạt loại khá trở lên; xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định; đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành liên quan căn cứ chức năng quản lý nhà nước, ban hành hướng dẫn thực hiện đối với các tiêu chí, chỉ tiêu thuộc Bộ tiêu chí.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan, quy định cụ thể đối với các nhóm xã phù hợp với điều kiện đặc thù, nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, gắn xây dựng nông thôn mới với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan để ban hành cẩm nang, tài liệu hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 cho các địa phương; nghiên cứu, chỉ đạo thí điểm các mô hình nông thôn mới kiểu mẫu; đề xuất các tiêu chí nâng cao chất lượng đối với các xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, tiêu chí xây dựng mô hình xã nông thôn mới kiểu mẫu, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/12/2016 và thay thế Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

Điều chỉnh một số dự án nhà máy nhiệt điện

Thủ tướng Chính phủ vừa chỉ đạo điều chỉnh một số dự án nhà máy nhiệt điện trong các Trung tâm Điện lực Quảng Trạch và Quỳnh Lập.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đồng ý Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam tiếp tục làm chủ đầu tư Dự án nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập I, công suất 2×600 MW tại Trung tâm Điện lực Quỳnh Lập, tỉnh Nghệ An.

Thủ tướng Chính phủ giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam thay thế Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I, công suất 2×600 MW tại Trung tâm điện lực Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Thu hồi chủ trương giao Tập đoàn Inter RAO (Liên bang Nga) nghiên cứu phát triển Dự án nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch II, công suất 2×600 MW tại Trung tâm điện lực Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư Dự án này.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương hướng dẫn Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện phương án xử lý các thủ tục chuyển giao Dự án nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm tiến độ, tránh lãng phí và thất thoát trong quá trình chuyển giao chủ đầu tư Dự án; đồng thời, chỉ đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện các bước của Dự án nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập I bảo đảm tiến độ, chất lượng và thông báo về việc chấm dứt quyền nghiên cứu phát triển Dự án nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch II của Tập đoàn Inter RAO (Liên bang Nga).

Quy hoạch quản lý chất thải rắn vùng KTTĐ Bắc Bộ

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Bắc Bộ đến năm 2030.

Theo phê duyệt, Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) Bắc Bộ thuộc ranh giới hành chính của 7 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Mục đích của quy hoạch là dự báo tổng lượng chất rắn phát sinh, xác định phương thức phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải rắn; xác định các cơ sở xử lý chất thải rắn và phạm vi phục vụ đáp ứng nhu cầu xử lý chất thải rắn cho vùng KTTĐ Bắc Bộ; nâng cao hiệu quả quản lý tổng hợp chất thải rắn, phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm thiểu tối đa khối lượng chất thải phải chôn lấp; làm cơ sở cho việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn trên địa bàn các tỉnh trong phạm vi vùng KTTĐ Bắc Bộ.

Dự báo giai đoạn từ nay đến năm 2020 tổng lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 38.980 tấn/ngày. Trong đó chất thải rắn thông thường phát sinh khoảng 36.040 tấn/ngày, chất thải rắn nguy hại phát sinh khoảng 2.940 tấn/ngày.

Dự báo giai đoạn 2021 – 2030 tổng lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 59.695 tấn/ngày. Trong đó, chất thải rắn thông thường phát sinh khoảng 55.385 tấn/ngày, chất thải rắn nguy hại phát sinh khoảng 4.310 tấn/ngày.

Quy hoạch xác định 1 cơ sở xử lý chất thải rắn vùng liên tỉnh (cơ sở xử lý Sóc Sơn, Hà Nội với diện tích 257 ha, công suất khoảng 6.000 tấn/ngày, tiếp nhận và xử lý chất thải rắn thông thường cho khu vực thành phố Hà Nội, chất thải rắn nguy hại cho các tỉnh, thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên) và 5 cơ sở xử lý chất thải rắn cấp vùng tỉnh có chức năng cung cấp dịch vụ xử lý chất thải rắn liên tỉnh (với tổng diện tích khoảng 231 ha, công suất khoảng 11.500 tấn/ngày).

Đối với việc quy hoạch các cơ sở xử lý chất thải rắn vùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác sẽ căn cứ theo các đồ án quy hoạch của các địa phương trong vùng KTTĐ Bắc Bộ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Các cơ sở xử lý chất thải rắn phải đảm bảo khoảng cách an toàn về môi trường theo đúng các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành. Thực hiện các giải pháp hạn chế ảnh hưởng tới môi trường đối với các cơ sở xử lý chất thải rắn hiện có trước năm 2020 (xây dựng hệ thống thu gom xử lý nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp chất thải rắn, chuyển đổi công nghệ hạn chế chôn lấp…); đóng cửa các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh và có giải pháp xử lý giảm thiểu ảnh hưởng tới môi trường, kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở xử lý chất thải rắn trong toàn vùng.

Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp vùng ĐBSCL

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại Hội nghị Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thủy lợi, xây dựng nông thôn mới, liên kết hợp tác phát triển sản xuất nông sản chủ lực theo chuỗi giá trị vùng đồng bằng sông Cửu Long và Kế hoạch hợp tác liên kết phát triển bền vững tiểu vùng Đồng Tháp Mười.

Tái cơ cấu nông nghiệp là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đây là một quá trình lâu dài, là bộ phận quan trọng của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế. Tái cơ cấu nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long đã và đang đặt ra nhu cầu bức thiết, không chỉ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp mà còn phải thích ứng với biến đổi khí hậu.

Để tiếp tục khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển nông nghiệp của Vùng và thực hiện Đề án tái cơ cấu, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu các địa phương, các Bộ, cơ quan liên quan tập trung vào một số trọng tâm: Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thủy lợi là vấn đề cấp bách của đồng bằng sông Cửu Long trước thách thức của biến đổi khí hậu, thiếu hụt nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Kông.

Các địa phương, các Bộ, cơ quan liên quan phải thực hiện đồng bộ giải pháp tổ chức lại sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, gắn sản xuất với tiêu thụ theo yêu cầu của thị trường; gắn công nghiệp với nông nghiệp, nông nghiệp với dịch vụ, kinh tế hộ với kinh tế hợp tác; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo tiểu vùng và vùng đồng bằng sông Cửu Long; sản xuất theo chuỗi giá trị từ khâu giống, canh tác, thu hoạch, bảo quản, chế biến, đóng gói, tiêu thụ. Các địa phương tiếp tục chỉ đạo tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình đạt hiệu quả cao trong sản xuất.

Việc chuyển trồng lúa sang cây trồng khác cần tính đến thị trường và sức cạnh tranh của sản phẩm. Do đó, các địa phương cùng các Bộ, ngành cần xác định lại bản đồ sử dụng đất lúa phù hợp với thực tiễn của đồng bằng sông Cửu Long, gắn với tìm kiếm thị trường tiêu thụ, các giải pháp hỗ trợ về vốn, chính sách, cơ chế của nhà nước cho doanh nghiệp và người dân. Việc chuyển đổi trồng lúa sang trồng cây, nuôi con khác cần được nghiên cứu kỹ và triển khai quyết liệt, xem đây là nhiệm vụ quan trọng của 5 năm tới. Đồng thời, các địa phương cần lựa chọn sản phẩm nông nghiệp chủ lực không chồng chéo, cạnh tranh với nhau và phát triển sản xuất theo chuỗi; xây dựng thương hiệu bằng các đề án cụ thể theo kinh nghiệm của tỉnh Đồng Tháp.

Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, tái cơ cấu ngành nông nghiệp là rất quan trọng đối với cộng đồng dân cư và từng hộ gia đình để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm. Chú trọng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp thông minh…, nhưng không nhất thiết các địa phương đều xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; cần nghiên cứu kỹ để tránh lãng phí nguồn lực của nhà nước và xã hội. Các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chủ yếu đóng vai trò vườn ươm, trình diễn kỹ thuật; cân nhắc việc thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư, sản xuất.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu thực hiện tốt công tác dự báo thị trường trong nước, thị trường quốc tế và các thị trường tiềm năng đối với các nông sản chủ lực của vùng để lập kế hoạch sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Trên cơ sở các đề án, kế hoạch cụ thể đã được phê duyệt, cần tiếp tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá để có căn cứ khoa học, khách quan đối với từng ngành hàng, từng loại sản phẩm về lợi thế, khả năng cạnh tranh và những khó khăn, thách thức trong tiêu thụ để điều chỉnh cho phù hợp, bảo đảm hiệu quả sản xuất.

Rà soát các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp trong thời gian qua của Trung ương và địa phương. Từ đó, tiếp tục nghiên cứu ban hành cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp để thu hút vốn đầu tư xã hội cho mục tiêu phát triển nông nghiệp theo đề án tái cơ cấu.

UBND tỉnh Đồng Tháp chủ trì, phối hợp với các tỉnh trong tiểu vùng Đồng Tháp Mười và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai điều tra, đánh giá tiềm năng, lợi thế phát triển nông nghiệp tiểu vùng Đồng Tháp Mười; định hướng phát triển bền vững và giải pháp thực hiện liên kết tiểu vùng. Bổ sung thông tin về thị trường nông sản chủ lực của các tỉnh thuộc tiểu vùng. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp vào đầu tư trong tiểu vùng; cơ chế điều phối liên kết tiểu vùng Đồng Tháp Mười và khuyến nghị cơ chế điều phối liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Hỗ trợ Quảng Bình 1.500 tấn gạo cứu trợ hộ dân vùng ngập lũ

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đồng ý hỗ trợ trước mắt 1.500 tấn gạo cho tỉnh Quảng Bình để cứu trợ khẩn cấp cho các hộ dân có nguy cơ thiếu đói tại vùng ngập lũ; giao Bộ Tài chính khẩn trương xử lý cụ thể theo quy định. Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm rà soát, đảm bảo cấp phát kịp thời, đúng đối tượng.

Đây là nội dung thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng trong đợt kiểm tra công tác ứng phó, chỉ đạo khắc phục hậu quả áp thấp nhiệt đới và mưa lũ tại các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế.

Cũng theo Thông báo này, về hỗ trợ kinh phí khắc phục cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục, nhà cửa), sau khi lũ rút, tỉnh Quảng Bình  chỉ đạo thống kê, đánh giá cụ thể đầy đủ, kịp thời, chính xác thiệt hại, xác định rõ trách nhiệm khắc phục của địa phương, của các bộ, ngành, nhu cầu hỗ trợ trước mắt gửi Ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống thiên tai tổng hợp, đề xuất báo cáo Thủ tướng theo quy định (đối với các công trình mang tính chất lâu dài, cần chủ động bố trí trong kế hoạch đầu tư trung hạn để từng bước thực hiện). Bộ Giao thông vận tải xử lý khắc phục các tuyến quốc lộ, đường sắt.

Phó Thủ tướng cũng đồng ý về nguyên tắc bổ sung các trạm quan trắc gió tại khu vực ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế sớm triển khai theo quy hoạch, phục vụ công tác giám sát, cảnh báo thiên tai.

Để hạn chế thiệt hại, hỗ trợ nhân dân sớm khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định đời sống, Ủy ban nhân dân các tỉnh cần triển khai thực hiện nghiêm túc các công điện số 1826/CĐ-TTg và số 1827/CĐ-TTg ngày 15/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, khẩn trương khắc phục hậu quả áp thấp nhiệt đới, trong đó tiếp tục huy động lực lượng, phương tiện tại chỗ của địa phương, phối hợp với các lực lượng có liên quan tiếp tục tìm kiếm những người còn đang mất tích.

Bên cạnh đó, tổ chức thăm hỏi, động viên kịp thời đối với thân nhân những người bị thiệt mạng, mất tích; thăm hỏi, hỗ trợ cứu chữa người bị thương, mai táng chu đáo người bị thiệt mạng; hỗ trợ gia đình bị thiệt hại khó khăn, nhất là các hộ gia đình chính sách, người nghèo, hỗ trợ sửa chữa nhà cửa, bố trí chỗ ở tạm cho các hộ bị mất nhà cửa để sớm trở lại cuộc sống bình thường.

Đồng thời, tổ chức cứu trợ lương thực, nhu yếu phẩm cho các hộ dân trong vùng ngập lũ có nguy cơ bị thiếu đói, không để người dân bị đói, rét; tiếp tục bố trí lực lượng kiểm soát, hướng dẫn giao thông tại các bến đò, các khu vực bị ngập sâu, nước chảy xiết để đảm bảo an toàn; phối hợp với ngành đường sắt hỗ trợ hành khách bị mắc kẹt do mưa lũ.

Ngay sau khi lũ rút, chỉ đạo dọn dẹp vệ sinh môi trường, tiêu độc khử trùng, hướng dẫn nhân dân xử lý nước sinh hoạt đảm bảo hợp vệ sinh, không để bùng phát dịch bệnh; vệ sinh trường lớp, sớm đưa học sinh trở lại trường; rà soát khắc phục các công trình hạ tầng thiết yếu bị hưu hỏng (điện, đường, trường, trạm, hệ thống giao thông, thủy lợi) để sớm phục hồi sản xuất, ổn định đời sống.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với địa phương tập trung khắc phục ngay sự cố trên các tuyến giao thông, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn, nhất là đối với tuyến quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam.

Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ địa phương đủ cơ số thuốc, hóa chất xử lý nước, môi trường; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với địa phương trong việc xử lý môi trường sau khi lũ rút, không để bùng phát dịch bệnh trên người và vật nuôi.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến của mưa lũ và cơn bão SARIKA, dự báo và cung cấp thông tin kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo và thông báo cho nhân dân biết để chủ động phòng, tránh.

Các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Công Thương, Y tế, Giáo dục và Đào tạo và các bộ, ngành có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động phối hợp, hỗ trợ địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, đặc biệt cần tập trung khắc phục nhanh các công trình hạ tầng về y tế, giáo dục, giao thông, thủy lợi, điện, giúp nhân dân sớm ổn định đời sống và phục hồi sản xuất ngay sau khi lũ rút.

Ủy ban quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chỉ đạo lực lượng đóng chân trên địa bàn hỗ trợ địa phương triển khai tìm kiếm người mất tích, khắc phục hậu quả mưa lũ theo đề nghị của địa phương. Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Bộ Giao thông vận tải và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình triển khai ngay phương án phù hợp cứu nạn 4 thuyền viên trên tàu vận tải bị mắc cạn ngoài cửa sông Gianh theo đề nghị của địa phương, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho người và phương tiện tham gia cứu nạn.

P.V

loading...
loading...

Related Articles

Add Comment