Lao động Việt cần hướng đến chất lượng cao.

Category: Doanh nghiệp tgo-1

Mặc dù chỉ chiếm gần 30% lực lượng lao động xã hội nhưng giai cấp công nhân Việt Nam đã đóng góp hơn 65% tổng sản phẩm xã hội và hơn 70% ngân sách Nhà nước. Qua hơn 30 năm đổi mới, cùng với quá trình phát triển của đất nước, giai cấp công nhân đã có những bước trưởng thành về số lượng và chất lượng, đang có mặt ở các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã chỉ đạo các cấp công đoàn hiện thực hóa mục tiêu “Quyền lợi bảo đảm, phúc lợi tốt hơn” cho người lao động, để hàng triệu người lao động không chỉ thừa hưởng quyền lợi hợp pháp do Đảng, Nhà nước mang lại mà còn có được chính sách phúc lợi tốt từ doanh nghiệp; đây là cơ sở quan trọng để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

ccd0ee6af45e690ee0b5465356432067Ảnh minh họa

Giám đốc một Trung tâm đào tạo nghề kỹ thuật cao, chuyên cung ứng lao động cho ngành dầu khí cho biết, mức chênh lệch cao về thu nhập giữa lao động Việt Nam và lao động nước ngoài hiện khá phổ biến ở các công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí. Thuê một lao động kỹ thuật người nước ngoài, nhà thầu phải trả mức thấp nhất 2.500 USD/tháng (chưa tính chi phí ăn, ở theo chế độ dành cho lao động nước ngoài), trong khi một lao động Việt Nam chỉ 7-8 triệu đồng/tháng.

Tuy nhiên, các công ty dịch vụ dầu khí nước ngoài không bao giờ thuê toàn bộ lao động Việt Nam trong cùng một dự án. Trong các gói thầu thi công bao giờ cũng có khoảng 1/3 số lao động nước ngoài, mà chủ yếu là các nước châu Á như Malaysia, Indonesia, Singapore hoặc Philippines; 2/3 còn lại là lao động người Việt. Vì sao các công ty phải chấp nhận tốn kém chi phí thuê lao động nước ngoài trong khi lao động trong nước không thiếu? Vị giám đốc Trung tâm đào tạo nghề này cho biết, trước đây anh từng làm quản lý lao động cho một công ty dầu khí nước ngoài, nên hiểu rõ sự khác biệt giữa lao động Việt Nam và lao động của một số nước khác. Theo anh, các công nhân kỹ thuật nước ngoài có ý thức tự giác chấp hành kỷ luật rất cao, năng suất lao động họ gấp đôi, thậm chí ba lần so với người Việt. Họ còn có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh, khả năng trình bày và bảo vệ ý tưởng của mình rất tốt. Trong khi đó, công nhân Việt Nam ngoài sở trường chính là tiếp thu công nghệ nhanh thì hầu như còn tùy tiện trong công việc, kỷ luật lao động kém, làm việc không hết mình và thường đòi hỏi những điều kiện đôi khi hết sức vô lý.

Do đó, trước ngưỡng công nghiệp hoá hiện đại hoá vào năm 2020, điều mà không chỉ những nhà quản lý Việt Nam phải đối mặt chính là hiện tượng chảy máu chất xám. Đối mặt với thực trạng này, người quản lý nhân sự phải biết cách tận dụng nguồn lực vốn có của mình, tránh xảy ra hiện tượng đổi mới lực lượng lao động. Thay vì chỉ tập trung vào kỹ thuật, hay mức độ lành nghề của nhân viên, người sử dụng lao động phải chú trọng vào nhận thức và các kỹ năng mềm tối thiểu cần có trong bối cảnh hội nhập. Chính vì vậy mà bộ phận nhân sự đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm kiếm và trọng dụng nhiều ứng viên tiềm năng cho công ty mình.

Rõ ràng rằng, câu chuyện phân biệt giữa lao động Việt Nam và lao động nước ngoài không chỉ có ở trong nước. Ở nước ngoài, báo chí đã từng phản ánh một số cửa hàng trương biển tuyển lao động nhưng mở ngoặc “trừ người Việt Nam”. Cách nhìn nhận này tuy chỉ mang tính cá nhân và có phần cực đoan, nhưng hẳn cũng xuất phát từ một lý do nào đó. Có thể người tuyển dụng đã từng gặp rắc rối với lao động Việt Nam, dẫn đến tâm lý e ngại, thậm chí kỳ thị người Việt. Vì vậy, trong chuyện này, người lao động Việt Nam cũng nên coi đó là một lời nhắc nhở.

d2310bs5

Lao động và việc làm là một trong những vấn đề nóng khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây cũng chính là một thách thức lớn với kinh tế Việt Nam. Với trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, cộng với những hạn chế thuộc về kỹ năng và ý thức, cho dù Việt Nam có nguồn lao động trẻ, dồi dào thì cũng khó có thể cạnh tranh với lao động nước ngoài. Chuyện không có gì lạ khi ở các công ty nước ngoài, dù đã có cam kết nhưng khi đi vào sản xuất, doanh nghiệp vẫn sử dụng phần lớn lao động phổ thông là người nước ngoài. Thậm chí ở các liên doanh tầm cỡ như Vietsovpetro, phải đến gần 30 năm sau, lao động Việt Nam mới dần thay thế được vị trí của người Nga.

Việc Việt Nam gia nhập AEC vào cuối năm 2015 vừa qua, sẽ là một thách thức và cũng là cơ hội cho người lao động có việc làm tốt hơn hoặc mất việc làm. Người lao động Việt Nam cần tập trung giải quyết và chuẩn bị các yếu tố ngoài kỹ năng chuyên môn đó là: Phải phá vỡ rào cản ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ chung trong cộng đồng kinh tế Asean (Tiếng Anh); Bỏ bớt tính nhỏ lẻ, phải làm việc theo nhóm, đoàn kết lại; Các quyết định không nên dựa trên cảm tính, kinh nghiệm mà phải được dựa vào các con số, logic; Phải chuẩn bị kiến thức, kỹ năng và thái độ cũng như trạng thái tâm lý để sẵn sàng di chuyển sang làm việc tại các nước ASEAN; Phải sẵn sàng khả năng thích nghi với môi trường làm việc mới khó khăn; Phải coi trọng kỷ luật lao động, ý thức tuân thủ pháp luật cũng như cường độ lao động cao.

Trắc Long – Thuỳ Duyên

loading...
loading...

Related Articles

Add Comment