Đồng bằng sông Cửu Long: Biến đổi khí hậu không còn là “kịch bản”

Category: Thời sự tgo-1

Nhiệt độ trái đất tăng cao; ngập lụt, hạn hán, giông lốc, sạt lở bờ sông, nước biển dâng, xâm nhập mặn xuất hiện không theo chu kỳ và tác động mạnh đến đời sống người dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nhiều chuyên gia, nhà khoa học đã lo lắng và cảnh báo về tình trạng biến đổi khí hậu đang ngày càng diễn biến phức tạp.

Mặn tấn công, trở tay không kịp

Dù đã vào mùa mưa nhưng ở nhiều vùng ngọt hóa tại ĐBSCL bất ngờ bị nước mặn tấn công, đẩy cuộc sống nhiều hộ dân nơi đây vào thế trở tay không kịp.“Nhà báo nếm thử coi, nước gì mà đắng chát. Đời thuở giờ tui mới thấy nước gì mà lạ quá” – bà Võ Thị Dung (ấp Phương An 2, xã Hưng Phú, huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng) nhăn nhó. Cạnh đó, ông Võ Văn Đẹp (chồng bà Dung) rầu rĩ vớt từ bè cá lên từng đợt cá lóc chết phơi bụng.

Trung tâm Khí tượng thủy văn Kiên Giang - Đồ họa: Tấn Đạt.
Trung tâm Khí tượng thủy văn Kiên Giang – Đồ họa: Tấn Đạt.

Từ đầu tháng 7, bè cá của vợ chồng ông Đẹp và các hộ dân lân cận bỗng dưng chết hàng loạt. Người nuôi cá ở đây càng bất ngờ hơn khi biết “thủ phạm” hủy diệt cá nuôi là sông bị nhiễm mặn.“Hồi nào giờ đâu có tình trạng nước mặn thế này” – ông Đẹp thở dài. Ông nuôi 25.000 con cá lóc được 100 ngày, dự định sang tháng 8 thu hoạch, nhưng chưa kịp bán thì cá chết.

Cuộc sống đảo lộn

Ở vùng lân cận, người dân xã Phương Phú (huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang) cũng lần đầu tiên chứng kiến cảnh nước mặn tấn công.Bà Đoàn Thị Đèo (61 tuổi, ấp Phương Bình, xã Phương Phú) nói: “Mấy chục năm trước có lần nước trên sông bị lợ lợ hai, ba ngày rồi hết. Còn tình trạng mặn như năm nay là chưa từng có”. Nhà bà Đèo trồng 800 gốc cam, trước giờ vẫn tưới bằng nước sông Quản Lộ – Phụng Hiệp. Nhưng sông bất ngờ bị mặn, bà chỉ còn trông vào nguồn nước máy, nhưng không ngờ nước máy cũng bị mặn.

Mọi sinh hoạt của người dân đều bị ảnh hưởng vì nước mặn. Ông Nguyễn Văn Liệt, người dân ấp Phương Hòa (xã Phương Phú), nói do nước trên sông bị mặn nên tắm giặt hay nấu ăn cũng đều khó khăn. “Chúng tôi phải tắm bằng nước mặn, rồi lên xả bằng nước mưa. Nấu cơm cũng vậy, phải vo gạo bằng nước mặn rồi mới nấu bằng nước mưa dự trữ”.

Nông dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phải phá bỏ lúa bị hư hại do nhiễm mặn - Ảnh: Hữu Khoa.
Nông dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang phải phá bỏ lúa bị hư hại do nhiễm mặn – Ảnh: Hữu Khoa.

Ông Phan Văn Hiền, chủ nhà máy xử lý nước cung cấp cho hơn 600 hộ dân tại thị trấn Trà Lồng, kể với chúng tôi, cơ sở của ông hoạt động gần 20 năm nay, lần đầu tiên ông phải chịu cảnh cung cấp nước mặn cho bà con. “Nước bị phèn, bị dơ chúng tôi xử lý được. Còn nước mặn như thế này là thua” – ông Hiền cho biết. Vậy là người dân sống trong khu vực Phương Phú, Trà Lồng rơi vào cảnh thiếu nước ngọt nghiêm trọng.

 Ông Lê Phước Đại, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Hậu Giang, cho biết mặn đã ảnh hưởng đến TP Vị Thanh, các xã Vĩnh Viễn, Vĩnh Viễn A, Lương Tâm, Lương Nghĩa, Thuận Hòa, Lương Phú, Tân Phú, Trà Lồng của huyện Long Mỹ; xã Phương Phú, thị trấn Búng Tàu, xã Tân Phước Hưng của huyện Phụng Hiệp…“Nếu triều cường từ Bạc Liêu đưa lên mạnh (qua đường sông Quản Lộ – Phụng Hiệp) thì sẽ nhiễm mặn đến thị xã Ngã Bảy của Hậu Giang, điều trước nay chưa từng có. Mặn xâm nhập đã đe dọa đến 18.000ha đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Chúng tôi phải đóng các cửa cống, bồi tức đê bao, thông báo cho bà con không nên lấy nước sông nhiễm mặn để tưới lúa” – ông Đại nói.

“Chạy” mặn

Tại Kiên Giang, ven bờ hai con sông Cái Bé, Cái Lớn thuộc hai huyện Châu Thành và An Biên là những cánh đồng đỏ quạch màu phèn, nước trong ruộng nhiễm mặn nên nông dân không thể sạ lúa.

Dưới chân cầu Cái Bé, ông Danh Tui (46 tuổi, ngụ ấp An Phước, xã Bình An, Châu Thành) đứng thẫn thờ nhìn dòng nước mặn dưới con kênh Xả Xiêm rồi lủi thủi trở về nhà. Ông Tui cho biết khoảng ba năm trở lại đây, thời gian nước ngọt đổ về ngày càng xa dần. Mọi năm giờ này lúa hè thu chỉ còn hơn tháng nữa là có thể thu hoạch, nhưng năm nay đến giờ vẫn chưa sạ được nên chắc phải chờ tới vụ đông xuân. Vậy là coi như mất trắng một vụ lúa. Ông Tui cho hay do mấy năm nay thời tiết thất thường nên hai cha con ông phải “chạy mặn”, dẫn nhau đi làm công nhân cầu đường ở Phú Quốc.

Dọc con đường dẫn về trung tâm ấp An Thới là những ngôi nhà đóng cửa im lìm vì vắng chủ, phía sau là những cánh đồng nhiễm mặn nối đuôi nhau chạy dài hút tầm mắt. Những cánh đồng ven tuyến kênh Rạch Giá – Long Xuyên thuộc địa phận Rạch Giá cũng bị nhiễm mặn. Chị Danh Thị Kim Linh, ngụ xã Phi Thông (Rạch Giá), cho hay chị và nhiều người dân địa phương được chủ ruộng thuê giặm lại lúa bị nhiễm mặn. Đây cũng là lần đầu tiên giữa vụ hè thu lại có người thuê đi giặm lúa.

Ông Nguyễn Văn Tâm, giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, cho biết đợt hạn hán đầu tháng 7 hết sức bất thường, chưa từng ghi nhận suốt 15 năm qua.

TS Lê Anh Tuấn – phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) nhận định trước đây cũng có tình trạng khô hạn ở thượng nguồn nhưng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, không kéo dài như những gì đang diễn ra. Nguyên nhân của tình trạng kéo dài này là do hiện tượng El Nino đang trở lại.

Khoan sâu 100 mét cũng không có nước sạch

Không chỉ bị nhiễm phèn, mặn, nhiều địa phương trong khu vực ĐBSCL đang đối diện với tình trạng nhiều giếng nước ngầm bị bỏ phế do không còn nước để lấy. Theo báo cáo của Sở TN-MT tỉnh Cà Mau, toàn tỉnh có 141.226 giếng nước ngầm, nhiều nhất khu vực ĐBSCL (cứ mỗi 2km có 30 giếng nước ngầm). Cà Mau cũng là tỉnh được đánh giá có nguồn nước ngầm dồi dào, với trữ lượng khoảng 5,8 triệu m3/ngày, phân bổ ở sáu tầng sâu. Cứ mỗi ngày đêm, người dân Cà Mau lấy trên 370.000m3 nước ngầm. Bị khai thác quá mức, nhiều giếng nước ngầm trở nên kiệt, không còn nước để bơm. Lúc này, người dân chỉ còn cách bỏ phế cây nước đã khoan.

Tại Cà Mau đã có trên 2.000 giếng nước bị bỏ như thế. Một cán bộ quản lý nước Sở TN-MT Cà Mau cho hay các giếng nước bị bỏ này trở thành nguy cơ gây ô nhiễm hệ thống nước ngầm. Tỉnh phải xuất trên 6 tỉ đồng ngân sách để trám lấp các giếng nước không còn sử dụng.“Năm 2014, tỉnh chúng tôi đã trám lấp 800 cây nước. Năm 2015 trám lấp 1.000 cây. Năm 2016 trám các cây nước còn lại” – ông này cho biết. Tương tự, tại Bạc Liêu cũng đã có khoảng 2.000 giếng nước ngầm bị hư hỏng, bỏ phế cần trám lấp.

Từ nhiều giếng nước ngầm bị bỏ hoang, để tiếp tục có nước sử dụng, người dân nơi đây lại tiếp tục thuê thợ khoan giếng ở tầng sâu hơn. Một thợ khoan nước tại xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình, Cà Mau) cho biết có rất nhiều giếng đã khoan nhưng không tìm được nước, hoặc khoan đến độ sâu 100m gặp nước bị nhiễm mặn. Thế là thợ khoan bỏ lỗ khoan tìm vị trí khác. Phần lớn thợ khoan nước là dân “tay ngang”, cứ khoan theo cảm tính, khi không có nước thì rút giàn khoan để khoan chỗ khác, bỏ lại lỗ thủng và tạo nên hiện tượng thông tầng, ô nhiễm lây lan.

NỬA CUỐI Năm 2016 phải làm gì?

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vừa công bố mục tiêu tăng gấp đôi tài trợ hằng năm cho chương trình chống biến đổi khí hậu từ mức hiện nay là 3 tỉ USD lên 6 tỉ USD vào năm 2020. Khoản tài trợ mới này đánh dấu lần đầu tiên ADB phê duyệt một mục tiêu đầu tư rõ ràng dành cho biến đổi khí hậu.

Trong số 6 tỉ USD, 4 tỉ USD được dự kiến chi cho việc giảm nhẹ thông qua mở rộng hỗ trợ cho năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng, giao thông bền vững và xây dựng các thành phố thông minh.Hai tỉ USD sẽ dành cho các cơ sở hạ tầng có sức chống chịu tốt hơn, nông nghiệp thích ứng khí hậu và chuẩn bị sẵn sàng cho các thảm họa liên quan đến khí hậu.

Một thửa đất (xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau) trước đây là vườn dâu, nay bị nước mặn xâm nhập khiến dâu chết hàng loạt, đất xác xơ - Ảnh: Kiên Thành.
Một thửa đất (xã Biển Bạch, huyện Thới Bình, Cà Mau) trước đây là vườn dâu, nay bị nước mặn xâm nhập khiến dâu chết hàng loạt, đất xác xơ – Ảnh: Kiên Thành.

Công bố của ADB được đưa ra trong bối cảnh một cam kết từ các quốc gia phát triển nhằm huy động 100 tỉ USD mỗi năm từ năm 2020 để chống biến đổi khí hậu tại các quốc gia đang phát triển.Toàn bộ nguồn vốn gia tăng trong tài trợ chống biến đổi khí hậu sẽ được trích từ gói cho vay thương mại kết hợp giữa Quỹ Phát triển châu Á và nguồn vốn vay thông thường.Gói tài trợ kết hợp này sẽ nâng tổng mức phê duyệt cho vay và viện trợ không hoàn lại hằng năm lên 50%, tương đương 20 tỉ USD vào năm 2017.Các nghiên cứu của ADB chỉ ra rằng chi phí kinh tế của biến đổi khí hậu là khá cao như hàng năm khu vực Đông Nam Á có thể mất tới 6,7% GDP vì biến đổi khí hậu.

Ở khu vực ĐBSCL, khan hiếm nước ngọt là nỗi bận tâm lớn ở nhiều địa phương ven biển những năm gần đây. Bạc Liêu, Sóc Trăng có hơn nửa diện tích tự nhiên bị nhiễm mặn. Các tỉnh Bến Tre, Kiên Giang, Long An, Trà Vinh… nguồn nước ngọt vẫn luôn thiếu hụt. Đã thế, ở các địa phương này ngày càng bị ảnh hưởng rõ rệt của nạn xâm nhập mặn. Trong tình thế đó, người ta chỉ còn biết trông chờ vào nguồn nước ngầm. Tuy nhiên, nguồn nước này cũng đã bắt đầu bị sụt giảm nghiêm trọng.

“Phải nghiên cứu giải pháp thay thế nước ngầm”, thạc sĩ Kỷ Quang Vinh – văn phòng công tác biến đổi khí hậu Cần Thơ, nói. Ông Vinh cho biết theo nghiên cứu của những chuyên gia hàng đầu về địa chất thì nước ngầm tại ĐBSCL thuộc dạng túi, bao quanh bởi đất sét và các mạch nước ngầm đan xen nhau trong đó. Khác với mạch nước ngầm ở đồng bằng sông Hồng hay vùng TP.HCM, mạch nước ngầm dạng túi một khi đã được hút lên để sử dụng thì không bổ cập (tái tạo) trở lại, vì vậy càng xài nhiều càng cạn kiệt.

Trong khi những vùng có giải pháp nước ngọt thay thế, cơ quan chức năng cấm khai thác nước ngầm quá mức thì vùng nhiễm mặn, nước ngầm cạn kiệt như Cà Mau, Kiên Giang rất khó để cấm dân khai thác, cứ thế nước ngầm ngày càng hiếm hoi. Trước thực trạng này, ông Vinh cho rằng giải pháp là cần tận dụng các kênh, mương hiện có ở ĐBSCL, chỗ nào có thể làm hồ chứa được thì làm hồ chứa (có thể mỗi xã làm mỗi hồ chứa) để tích nước mưa, nước lũ vào mùa mưa cho dân sử dụng trong mùa khô. Giải pháp này ít tốn kém và không gây xung đột trong quá trình vận hành như những dự án trữ nước mang tính “đao to búa lớn” hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng.

Giải pháp này cần được thực hiện đồng bộ với việc sử dụng tiết kiệm nước hiện có bằng việc chuyển đổi cây trồng bằng những loại cây ít cần nước hơn. Ngoài ra các nhà khoa học, cơ quan hữu quan cần phải nghiên cứu giải pháp tái tạo cho mạch nước ngầm mà nhiều nước tiên tiến đang làm (làm sạch nước mưa, nước lũ để bơm vào tầng nước ngầm); nghiên cứu xử lý nước mặn thành nước ngọt để cung cấp cho dân mà các nước như Israel hay Singapore đã làm được, có thể học tập và nhờ sự giúp đỡ của họ.

Một vấn đề khác đơn giản hơn, theo ông Vinh, vùng Cà Mau, Kiên Giang có lượng mưa nhiều, vì vậy cần nghiên cứu sử dụng cẩn trọng nguồn nước mưa cũng là cách giải quyết hiệu quả cho câu chuyện khan hiếm nước ngọt của vùng này.

Nhóm PV Tây Nam Bộ

loading...

Related Articles

Add Comment