Điều chỉnh kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ của 2 DA giao thông quan trọng

Category: Thời sự tgo-1

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 1977/QĐ-TTg điều chỉnh kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014 – 2016 và kế hoạch năm 2016 của các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên.

Cụ thể, điều chỉnh giảm 16.422,874 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014 – 2016 và kế hoạch năm 2016 của 30 dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên tại Quyết định 2426/QĐ-TTg ngày 12/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Trong đó, các dự án mở rộng quốc lộ 1 giảm 11.560,739 tỷ đồng; các dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên giảm 4.862,135 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, bổ sung 11.902,357 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014-2016 và giao kế  hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2016 cho 22 dự án sử dụng vốn dư từ các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên quy định tại Nghị quyết 99/2015/QH13 của Quốc hội

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định điều chỉnh giảm và giao chi tiết kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2016 cho các dự án sử dụng vốn dư từ các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên; tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện và giải ngân số vốn bổ sung nêu trên theo quy định.

Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Giao thông vận tải thông báo kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014 – 2016 và kế hoạch năm 2016 của các dự án sử dụng vốn dư cho các đơn vị triển khai thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, chịu trách nhiệm rà soát thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán của từng dự án sử dụng vốn dư theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và đúng quy định; tổ chức triển khai, theo dõi tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ được giao cho các dự án.

Tại Quyết định 1978/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định bố trí 4.520,517 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư giai đoạn 2014 – 2016 của các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên theo danh mục và mức vốn phân bổ cụ thể.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giao thông vận tải khẩn trương rà soát quy mô, thiết kế đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả đầu tư; hoàn thiện các thủ tục đầu tư của các dự án trong danh mục theo quy định pháp luật hiện hành; đề xuất kịp thời các giải pháp xử lý khó khăn, vướng mắc.

Hải Phòng phấn đấu là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả nước

 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu cùng với các thành phố lớn như Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng phải là một động lực, một đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả nước.

 Đó là một trong những nội dung tại Thông báo số 330/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo thành phố Hải Phòng.

Phát huy yếu tố năng động, sáng tạo của người Hải Phòng

Cũng tại Thông báo này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Hải Phòng triển khai quyết liệt Kế hoạch hành động của Thành phố thực hiện các Nghị quyết số 19, 35, 60 của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, đẩy nhanh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, phát huy các tiềm năng, thế mạnh của Thành phố, đặc biệt là yếu tố năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm của người Hải Phòng.

Hải Phòng cần tiếp tục thu hút mạnh các dự án FDI chất lượng cao, công nghệ cao; tạo mọi thuận lợi để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ. Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là vận tải đa phương tiện, logistics, trong đó phải có kế hoạch cụ thể khai thác hiệu quả, tận dụng cơ hội khi Cảng nước sâu quốc tế Lạch Huyện hoàn thành và đưa vào sử dụng; đặt mục tiêu phấn đấu tăng mạnh lượng hàng qua Cụm cảng Hải Phòng.

Địa phương đi đầu về du lịch

Thủ tướng cũng yêu cầu Hải Phòng đưa du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; vận động người dân xây dựng môi trường du lịch thân thiện, quản lý đô thị văn minh. Hải Phòng phải là một trong những địa phương đi đầu về du lịch.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh sản xuất, tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tăng cường liên kết theo chuỗi, nâng cao giá trị gia tăng. Phấn đấu mục tiêu 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và không còn hộ nghèo. Tăng cường đào tạo nghề cho các ngành công nghiệp, dịch vụ để giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp, nông thôn.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng. Xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản; kiên quyết không để phát sinh nợ mới. Quản lý chặt chẽ và sử dụng ngân sách bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của Nhà nước. Chú trọng đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực, đa dạng hóa các hình thức đầu tư trong tất cả các lĩnh vực kết cấu hạ tầng.

Cùng với đó, Hải Phòng phải đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường thực hiện dịch vụ công trực tuyến, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ trên địa bàn.

Nghiên cứu phương án xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam

 Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo 331/TB-VPCP ý kiến của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng về tổng quan đường sắt Việt Nam và việc nghiên cứu phương án xây dựng đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam.

 Đường sắt Việt Nam có lịch sử phát triển 135 năm. Đến nay, mạng đường sắt quốc gia có tổng chiều dài 3.134km trong đó 2.531km chính tuyến, 612km đường nhánh và đường ga. Đường sắt Việt Nam đã đóng góp hết sức quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội nói chung và tích cực tham gia vào vận tải toàn ngành giao thông nói riêng. Tuy nhiên, do đã xây dựng từ lâu lại không được nâng cấp, mở rộng theo đúng yêu cầu phát triển, nên đường sắt Việt Nam hiện vẫn hoàn toàn là đường đơn, khổ đường hẹp 1.000mm và ngày càng xuống cấp.

Tiêu chuẩn kỹ thuật kết cấu hạ tầng đường sắt thấp, lạc hậu, hạn chế cả về bình diện trắc dọc, kết cấu tầng trên dẫn đến năng lực thông qua và năng lực chuyên chở rất hạn chế, tính cạnh tranh không cao. Hành lang an toàn giao thông đường sắt bị lấn chiếm nghiêm trọng; đường sắt giao cắt bằng với đường bộ và đường dân sinh có mật độ cao là những nguyên nhân chủ yếu hạn chế tốc độ chạy tàu, đe dọa an toàn giao thông đường sắt.

Do điều kiện địa hình nước ta có bề ngang hẹp, trải dài với hai trung tâm kinh tế lớn là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tập trung ở hai đầu đất nước, nên việc phát triển giao thông kết nối hai khu vực này và nối liền các thành phố, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch dọc tuyến là rất cần thiết.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa ngày càng cao, giải quyết tình trạng quá tải của đường bộ và hàng không, việc tiếp tục cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Bắc – Nam hiện có phục vụ vận tải hàng hóa, vận tải hành khách nội vùng, bảo đảm khai thác hiệu quả hơn, an toàn hơn thì việc nghiên cứu xây dựng mới tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam phục vụ vận tải hành khách với chất lượng cao nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng, khoa học và đồng bộ toàn tuyến

Xuất phát từ đặc thù của Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam (Dự án) cần quy trình, thủ tục đầu tư kéo dài, nhu cầu vốn rất lớn, khả năng thu hồi vốn hết sức khó khăn; đặc biệt là việc đầu tư kết cấu hạ tầng đường sắt phải do Nhà nước đầu tư sẽ gây áp lực đối với trần nợ công; đồng thời, với công nghệ hiện đại, chất lượng nhân lực cao, khối lượng bồi thường, giải phóng mặt bằng lớn, từ đó yêu cầu Dự án phải được nghiên cứu thận trọng, kỹ lưỡng, khoa học và đồng bộ toàn tuyến, có tính toán phân kỳ đầu tư phù hợp.

 Đồng thời xác định định hướng xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách huy động vốn, chương trình nội địa hóa phát triển công nghiệp đường sắt Việt Nam, có kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ đường sắt tốc độ cao, làm cơ sở báo cáo Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương và Quốc hội quyết định.

Từ những yêu cầu trên, để thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, triển khai có hiệu quả Chiến lược, Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 297/TB-VPCP ngày 16/9/2016 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu Bộ Giao thông vận tải khẩn trương nghiên cứu bổ sung quy định về cấp kỹ thuật đường sắt tốc độ cao vào Tiêu chuẩn ngành và Tiêu chuẩn quốc gia về cấp kỹ thuật đường sắt.

Bên cạnh đó, sớm cập nhật các nghiên cứu; tổ chức nghiên cứu; tổ chức hội thảo, truyền thông và hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án; trình Hội đồng thẩm định Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ thông qua năm 2017 để xem xét, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến và trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư vào năm 2018.

Khi được Quốc hội thông qua, cần chuẩn bị kỹ về thiết kế kỹ thuật và nguồn vốn để năm 2022 – 2030 thực hiện xong các dự án ưu tiên đoạn Hà Nội – Vinh và Thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Giao thông vận tải làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để bố trí vốn ngân sách cho công tác chuẩn bị đầu tư Dự án. Đồng thời, chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đề xuất với JICA tiếp tục hỗ trợ hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án; lựa chọn tư vấn nước ngoài thẩm tra Dự án trước khi trình Thủ tướng Chính phủ và Hội đồng thẩm định Nhà nước.

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo chủ động nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách huy động vốn; các đề án về phát triển các lĩnh vực liên quan, bao gồm cả đào tạo nguồn nhân lực… phục vụ phát triển đường sắt tốc độ cao theo Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 214/QĐ-TTg ngày 10/2/2015 của Thủ tướng Chính phủ).

P.V

loading...

Related Articles

Add Comment