ĐBSCL: Ứng dụng CNTT vào phát triển nông nghiệp

Category: Công nghệ, Góc nhìn tgo-1

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cho ngành nông nghiệp, hay gọi là “nông nghiệp thông minh” hoặc “nông nghiệp điện tử” đang trở thành xu thế mới, cải thiện đáng kể nền nông nghiệp ở nhiều nơi trên thế giới.

pt

Con trâu, cái cày dần lùi xa

Tại Việt Nam, một số địa phương ứng dụng ICT trong sản xuất nông nghiệp đã đạt được kết quả khả quan. Lợi thế là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, ứng dụng ICT mở ra cơ hội nâng cao giá trị nông sản, hướng đến ngành nông nghiệp hiện đại cho vùng ĐBSCL.

Chỉ cần một máy tính bảng hoặc một chiếc Smart phone có kết nối internet, người nông dân sẽ biết vườn cây nào cần bón phân, bón bao nhiêu, bón loại phân gì, diện tích nào cần tưới nước, tưới bao nhiêu là vừa… Sử dụng CNTT giúp người nông dân sản xuất vươn lên và tương lai họ sẽ được thụ hưởng nhiều hơn nhờ CNTT. Thế nhưng, liệu hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau” vẫn còn hiện hữu ở phần lớn các vùng nông thôn. CNTT mặc dù đã được áp dụng nhưng vẫn còn rất đơn lẻ – trâu cày chưa được thay bằng máy tính? Nghĩa là tư duy, nhận thức và phương pháp sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn chưa thực sự có bước đột phá.

Theo Gs. Ts Nguyễn Tuấn Anh, Chủ nhiệm chương trình KH – CN phục vụ xây dựng nông thôn mới, tỷ trọng đầu tư cho CNTT trong nông nghiệp thấp hơn nhiều so với những công nghệ khác, nông dân tiếp cận với công nghệ còn quá khiêm tốn, nguyên nhân cũng bởi nhận thức của doanh nghiệp và người dân còn chưa nhất quán, chưa thấy được lợi ích mà CNTT mang lại.

Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong nông nghiệp và tạo bước đột phá đáng kể. Nhờ ứng dụng CNTT trong nông nghiệp mà Israel từ nước có điều kiện đất đai khô hạn, khí hậu khắc nghiệt trở thành một quốc gia có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới; Nhật Bản cũng khẳng định vai trò của một cường quốc về nông nghiệp bên cạnh thế mạnh công nghiệp và điện tử.

Điển hình, 1 hécta đất ở Israel có thể cho năng suất hơn 3 triệu bông hồng, hay hơn 500 tấn cà chua mỗi vụ; mỗi năm, một con bò của Israel cho tới 11 tấn sữa. Chỉ với khoảng 2,5% dân số làm nông nghiệp, Israel không những bảo đảm đủ nhu cầu lương thực mà còn xuất khẩu nông sản mỗi năm.

Còn ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT vào nông nghiệp đang ở những bước đầu. Trong đó, ICT được ứng dụng nhiều nhất hiện nay là trong lĩnh vực sản xuất cây trồng trong hệ thống nhà mạng, bao gồm hệ thống tự động hóa trong điều khiển nhà mạng, điều khiển hệ thống tưới kết hợp với bón phân, hệ thống điều chỉnh ẩm độ và nhiệt độ, quang năng…hệ thống quản lý chuỗi cung ứng tập trung quản lý hệ thống cung ứng đầu vào và hệ thống phân phối của một vài tập đoàn, công ty lớn, trong các trại chăn nuôi gia súc và đại gia súc, các trại nuôi thủy sản theo phương thức thâm canh hoặc trong hệ thống thiết lập chuỗi thực phẩm an toàn…

Thực tế cho thấy, nước ta đã có thể tiếp cận và đưa ra những dự báo về giá cả, nông sản của thị trường thế giới nhưng nông dân vẫn rơi vào cảnh được mùa, mất giá và vì không đủ thông tin nên đổ xô vào trồng một loại mặt hàng nông sản dẫn tới dư thừa. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện có nhiều lợi thế để ứng dụng CNTT vào nông nghiệp như sự sẵn sàng về hạ tầng công nghệ, điện thoại thông minh trở nên đại trà thì hầu hết vẫn chưa chạm tay vào lĩnh vực này, chưa đầu tư cho những giải pháp phát triển nông nghiệp. Điển hình như: dự án hợp tác giữa Công ty Fujitsu Nhật Bản với Tập đoàn FPT tại Hà Nam tự động hóa sản xuất nông nghiệp trong nhà màng; dự án ứng dụng ICT quản lý và vận hành sản xuất lúa tại Đồng Tháp; dự án của Công ty NEC ứng dụng ICT sản xuất, kinh doanh nông sản; dự án ứng dụng ICT trong vận hành và quản lý sản xuất nông nghiệp công nghệ cao giữa Ban Quản lý Khu Nông nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh với Công viên Phần mềm Quang Trung và Global Cyber Soft…

Còn theo ông Từ Minh Thiện, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Nông nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, ứng dụng ICT trong sản xuất nông nghiệp rất đa dạng, phong phú và hiệu quả. Tùy thuộc vào trình độ phát triển sản xuất và trình độ của lực lượng lao động mà những ứng dụng này sẽ được thiết kế cho phù hợp. Ban quản lý thử nghiệm việc trồng dưa lưới thông qua ứng dụng SmartAgri tại Khu nông nghiệp công nghệ cao từ tháng 12-2015.

Ứng dụng CNTT đã tạo ra nhiều mô hình nông nghiệp thông mình ở miền Tây
Ứng dụng CNTT đã tạo ra nhiều mô hình nông nghiệp thông mình ở miền Tây

Nền tảng và giải pháp nào cho vùng ĐBSCL?

Để ứng dụng CNTT trở thành hướng đi bền vững cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, cần nhiều giải pháp đồng bộ từ các cấp, cũng như việc mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân, thu hút doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực này. Cần có hệ thống cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực sẵn sàng ứng dụng CNTT trong nông nghiệp cho vùng ĐBSCL. Có như vậy, ĐBSCL thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư và thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp.

Hiện nay, vùng ĐBSCL có nhiều ưu thế và thuận lợi trong đào tạo nguồn nhân lực CNTT. Theo ông Lê Văn Lợi, Viện trưởng Viện Tin học Doanh nghiệp – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, ĐBSCL cần xác định thế mạnh của vùng để ứng dụng CNTT và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để thu hút nguồn nhân lực. Vùng ĐBSCL có thể ứng dụng CNTT để kiểm soát và phát triển chất lượng lúa, thủy sản, an toàn vệ sinh thực phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm nhằm nâng cao uy tín và thương hiệu của vùng. Đã có nhiều nhà mạng như Viettel, FPT, VNPT… có thể thực hiện việc này chỉ với chi phí vài trăm nghìn đồng/tháng. Doanh nghiệp có một tên miền + website quảng bá dễ dàng theo dõi, cập nhật thông tin và tích hợp các dịch vụ khác như dịch từ tiếng Việt sang nhiều thứ tiếng khác. Ưu tiên đầu tư smartphone, máy tính bảng, máy tính xách tay. Mỗi doanh nghiệp có ít nhất 80% nhân viên sử dụng email trong công việc và có tài khoản trên facebook và biết sử dụng để quảng bá sản phẩm và chăm sóc khách hàng…

Phát biểu chỉ đạo mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: ĐBSCL không chỉ là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam mà phải là nền nông nghiệp thông minh, bền vững, có giá trị gia tăng cao của Đông Nam Á và rộng hơn là của châu Á trong tương lai. “Nếu thực hiện được tầm nhìn này, chúng ta coi như đã hoàn thành được một trong những sứ mệnh khó khăn nhất của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nói chung và công nghiệp hóa hiện đại hóa nền nông nghiệp VN nói riêng”-Thủ tướng nói.

Nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với những thách thức của biến đổi khí hậu với những kịch bản đáng lo ngại. Đó là tình trạng nước biển gây ngập mặn hầu hết vùng ĐBSCL, dịch bệnh mới phát sinh…Dự kiến nếu thiên tai xảy ra, sẽ có khoảng 22 triệu người phải di cư. Trước tình hình này, việc cùng nhau ngồi lại và tìm ra giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu là một yêu cầu cấp thiết. Với mục tiêu hướng đến sự phát triển bền vững, hội thảo Ứng dụng công nghệ sáng tạo trong phát triển nông nghiệp Việt Nam đã gắn kết được mọi người với nhau trong việc cùng nhìn tới tương lai.

Minh Sơn – Phước Lập 

loading...
loading...

Related Articles

Add Comment