ĐBSCL: Hành động tổng thể để thích ứng với biến đổi khí hậu

Category: Thời sự, Xã hội tgo-1

Quy hoạch chiến lược đối với hệ thống thủy lợi để tận dụng được tối đa nguồn lợi và giảm thiểu tác động bất lợi của sông, biển là một yêu cầu bức thiết và quan trọng để ổn định, phát triển bền vững lâu dài vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là 1 trong 3 đồng bằng của thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng. Để tồn tại, phát triển an toàn, trù phú và bền vững trong tương lai, phải có hành động khẩn cấp, nhưng trên cơ sở định hướng, tầm nhìn dài hạn, tiếp cận đa ngành, tiếp cận vùng, liên vùng và quốc gia. Cần thực thi các giải pháp công trình, phi công trình, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc“không hối tiếc” trước một tương lai không chắc chắc. Bài viết này phân tích đánh giá các ảnh hưởng của BĐKH đến vùng đồng bằng sông Cửu Long; Thực trạng ứng phó với BĐKH và trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết vùng trong ứng phó với BĐKH ở ĐBSCL.

6666666

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong lĩnh vực nông nghiệp, thiệt hại do xâm nhập mặn và khô hạn tại các tỉnh vùng ĐBSCL thời gian qua lên đến gần 8.000 tỉ đồng với 11/13 tỉnh bị ảnh hưởng. Chưa kịp nguôi ngoai, mùa lũ năm 2016 lại về chậm và ít nước đã kéo theo hệ lụy hàng trăm ngàn người dân sống phụ thuộc vào nguồn lợi thủy sản tự nhiên mất kế sinh nhai. Dù không có con số thống kê tổng thiệt hại là bao nhiêu, nhưng đây là năm thứ hai liên tiếp người dân ĐBSCL gặp khó khăn do lũ ít.

Theo ông Mai Văn Bộ, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện An Phú, tỉnh An Giang, cho biết :“Theo tính toán thì mỗi công ruộng (1.000 m2) chi phí đội lên 300.000 đồng, điều này sẽ rất khó khăn với người nông dân khi lúa bán không đem lại lợi nhuận”, Người dân trồng hoa màu, mía, nuôi thủy sản… cũng đang lo lắng do sản xuất khó khăn khi bước vào đợt hạn, mặn 2016 – 2017.

Như vậy, những diễn biến cực đoan của thời tiết và từ tác động của con người ở khu vực, đòi hỏi phải nhanh chóng có những giải pháp lâu dài nhằm kiểm soát nguồn nước, điều chỉnh quy hoạch sản xuất của từng vùng, tiểu vùng để đảm bảo sinh kế cho dân cư vùng ĐBSCL.

Theo GS.TS.Nguyễn Ngọc Trân khẳng định nguyên nhân còn do chính việc khai thác tài nguyên một cách vô ý thức và những mô hình phát triển nông nghiệp đang làm nghèo ĐBSCL và gây cản trở việc ứng phó với BĐKH. Ông Trân cho biết thêm “Mô hình phát triển nông nghiệp không đúng cách đang gây kiệt quệ tài nguyên đất, lãng phí tài nguyên nước. Khai thác tài nguyên bất hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng mất rừng ngập mặn, mất rừng tràm, đa dạng sinh học, chuỗi dinh dưỡng và môi trường vùng ngập nước trở nên nghèo nàn. Cùng với đó là giải quyết vấn đề sinh kế cho cộng đồng nhằm đảm bảo ổn định và cải thiện cuộc sống.

Dự báo năm 2020-2059, xâm nhập mặn sẽ lấn sâu 129 km trên sông Vàm Cỏ Tây. Riêng hiện tượng xói lở đất lên đến 500 ha/năm và khó có khả năng phục hồi. Cấu trúc dòng chảy trong năm thay đổi, lũ có xu thế giảm và theo dự báo 45% diện tích ĐBSCL có thể bị nhiễm mặn vào năm 2030.

Theo Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam – Bộ NN&PTNT, trước mắt cần tập trung nghiên cứu vấn đề trữ lũ tại vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên cho việc sử dụng hợp lý nguồn nước. Bên cạnh đó, hệ thống đê sông và cửa sông lớn cần được nghiên cứu xem xét theo hai hướng kiểm soát lũ và kiểm soát mặn cấp vùng, liên vùng, thậm chí toàn đồng bằng với các cống kiểm soát lũ ở vùng ngập lũ và cống ngăn mặn ở vùng có nguy cơ xâm mặn khi nước biển dâng.

Các chuyên gia thủy lợi kiến nghị nên chọn giải pháp là ngăn các cửa sông lớn bằng các cống Hàm Luông, Cổ Chiên và đồng thời bổ sung các cống trên sông lớn như: Vàm Cỏ, Cái Lớn, Cái Bé… để kiểm soát nước mùa khô, kiểm soát xâm nhập mặn và ngăn triều cường thích ứng với nước biển dâng. Ngoài ra, cần tập trung hoàn chỉnh hệ thống đê biển. Trước mắt khép kín từng vùng, quy mô đáp ứng với kịch bản BĐKH, nước biển dâng đến năm 2020, sau đó sẽ nâng cấp tùy theo tình hình biến đổi thực tế.

Trong quy hoạch các tuyến đê biển, đê cửa sông cần phải tính đến các ảnh hưởng gia tăng do xói lở bằng việc bố trí hành lang ngoài đê hợp lý để khai thác bảo vệ đê. Giải pháp duy nhất cho vấn đề này chính là hồi phục hệ thống sinh thái, rừng ngập mặn trước tác động suy giảm lượng phù sa như hiện nay. Tuy nhiên, có thực tế là “mô hình vẫn là mô hình” vì việc nhân rộng để tạo thành xu thế đột phá cấp độ toàn vùng đang đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập.

Cũng theo Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu – Đại học Cần Thơ, trong tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay thì không còn cách gì khác là việc tuyên truyền cho người dân thấy được sự biến đổi như thế nào. Bên cạnh đó, chúng ta không cần trồng nhiều lúa như hiện nay vì không hiệu quả và sự tác động môi trường rất lớn. Do vậy việc chuyển đổi cây trồng là vô cùng cần thiết. Tất nhiên là cần phải đòi hỏi người nông dân có sự đầu tư nhiều hơn về khoa học kĩ thuật, chịu khó học tập. Điều này là một vấn đề khó khăn nhưng nếu không vượt qua thì còn sẽ gặp nhiều khó khăn khác lớn hơn nữa.

Sơn Minh

Related Articles

Add Comment