ĐBSCL: Cần những chuỗi liên kết chiến lược

Category: Kinh tế tgo-1

Việc nông dân liên kết sản xuất, sẽ giảm được giá thành sản xuất, tạo ra nguồn nguyên liệu lớn, ổn định chất lượng, và sẽ là “đối trọng” cần thiết khi mua bán với doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nông dân rất cần cái “ngoéo tay” thiệt tình từ các doanh nghiệp.

 Loại bỏ tình trạng thao túng giá

Mỗi năm ĐBSCL sản xuất ra hơn 600.000 tấn tôm, 1 triệu tấn cá tra, 3 triệu tấn trái cây, 25 triệu tấn lúa. Sản lượng này là nguồn nguyên liệu dồi dào cung ứng cho xuất khẩu. Trong đó, nhiều mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu nhiều tỉ USD. Sau thời gian cá tra, tôm sú phát triển nóng có lúc cung vượt cầu, hai mặt hàng này dần ổn định. Trải qua nhiều biến động của thị trường, vùng nuôi cá tra cá da trơn ở ĐBSCL đang ở ngưỡng chấp nhận.

Tuy nhiên, khi giá cá tra thịnh vượng, các nhà máy chế biến xuất khẩu cá tra mọc lên như nấm. Nông dân nuôi cá và nhà máy chế biến phát triển “nóng” phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Cá tra ùn ứ khó tiêu thụ, phải trông chờ doanh nghiệp giải cứu. Tình trạng nhà máy chế biến nợ tiền cá nông dân diễn ra tràn lan. Nhiều doanh nghiệp phải tuyên bố phá sản. Mới đây nhất, một đại gia thủy sản trong lĩnh vực chế biến cá tra ở Cần Thơ phải “sa lưới” pháp luật vì nợ nần chồng chất.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Đó là những hệ lụy tất yếu của quá trình phát triển “nóng”. Những người đầu tư theo dạng “phong trào” dần bị loại khỏi cuộc chơi. Doanh nghiệp muốn có vùng nguyên liệu cá tra ổn định phải ký kết hợp đồng với nông dân. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện các hợp đồng “nửa vời” với nông dân nuôi cá. Khi nguyên liệu thừa, thì doanh nghiệp có nhiều lý do để chèn ép hoặc không mua cá theo hợp đồng. Người nuôi cá liên kết thành chuỗi liên kết ngang, tạo ra các câu lạc bộ nuôi cá tra, gắn với các tiêu chuẩn vùng nuôi cụ thể. Từ đó, cử đại diện đàm phán hợp đồng bán cho doanh nghiệp theo liên kết dọc bước đầu đã phát huy hiệu quả. Hiện tại, các doanh nghiệp đã hình thành khoảng 80% vùng nguyên liệu. Trong đó, có một tỷ lệ không nhỏ là nông dân trở thành người nuôi gia công cho doanh nghiệp.

Được biết, Hiệp hội Cá tra Việt Nam cũng đang có những việc làm thiết thực như lập bản đồ vùng nuôi. Vùng nguyên liệu đã có bước tiến đáng kể khi doanh nghiệp đăng ký hợp đồng xuất khẩu sản phẩm cá tra theo quy định của Nghị định 36. Việc đăng ký hợp đồng xuất khẩu cá tra đã góp phần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tạo công khai, minh bạch đối với thị trường cá tra và tăng thêm lợi ích cho doanh nghiệp và hộ nuôi.

Theo Hiệp hội Cá tra Việt Nam, đã có dữ liệu gần 40% vùng nguyên liệu cá tra. Các số liệu này dần sẽ hoàn thiện khi các doanh nghiệp và hộ nuôi đăng ký vùng nuôi với hiệp hội. Điều này sẽ góp phần thống kê chính xác hơn về diện tích, sản lượng nuôi cá tra ĐBSCL. Từ đó, giúp khả năng dự báo để cân đối cung – cầu, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc sản phẩm theo yêu cầu của thị trường nước ngoài tốt hơn. Đây cũng là cơ sở để loại bỏ tình trạng gây nhiễu, thao túng giá trên thị trường cá tra khu vực ĐBSCL.

Tăng khả năng cạnh tranh nhờ liên kết vùng

Theo ông Trịnh Đình Dũng, Phó thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo, Bộ Công thương cần  khẩn trương xây dựng Chiến lược xuất khẩu gạo của Việt Nam và đánh giá việc thực hiện Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6 -2016. Mô hình này đang chựng lại và có dấu hiệu gãy đổ khi doanh nghiệp không còn mặn mòi tham gia (chủ yếu doanh nghiệp sợ rủi ro). Chính vì vậy, việc ban hành tiếp Nghị định số 109 về kinh doanh xuất khẩu gạo là một giải pháp để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp với nông dân. Trong đó, là doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải liên kết với nông dân để hình thành các vùng nguyên liệu nhất định. Tuy nhiên, đến nay các doanh nghiệp xuất khẩu gạo chưa làm hết sức với lộ trình xây dựng vùng nguyên liệu.

 Chính phủ cũng đã có những giải pháp để đảm bảo quyền lợi cho nông dân. Như quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Thế nhưng, các yêu cầu này gần như không được doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc. Gần đây nhất là việc nông dân trồng lúa và doanh nghiệp liên kết thực hiện sản xuất cánh đồng lớn. Chỉ sau hai năm thực hiện, chương trình này đã mang lại một số hiệu quả nhất định. Nông dân sản xuất được bao tiêu giá cả.

Ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Cần Thơ, cũng nhận định : “Gần đây việc sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mưa bão, lũ lụt nên nông dân trở thành nhóm sản xuất rất dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu là vấn đề lớn và họ cũng là những người bị tác động rất mạnh. Thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro, giao thông đi lại khó khăn, thiếu vốn, thiếu tài sản, trình độ học vấn thấp và thiếu khả năng tiếp cận tín dụng”. Chính phủ thường xuyên theo dõi sát sao hoạt động xuất khẩu lúa gạo và diễn biến thị trường để có những chính sách ứng phó hỗ trợ.

Việc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong việc giám sát ký kết hợp đồng giữa bên sản xuất và bên tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tránh việc hai bên phá vỡ hợp đồng và cam kết cung ứng, tiêu thụ trong sản xuất. Giám sát chặt chẽ chất lượng thị trường vật tư nông nghiệp và chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Việc nông dân liên kết sản xuất, sẽ giảm được giá thành sản xuất, tạo ra nguồn nguyên liệu lớn, ổn định chất lượng sẽ là “đối trọng” cần thiết khi mua bán với doanh nghiệp là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nông dân rất cần cái “ngoéo tay” thiệt tình từ các doanh nghiệp.

GS-TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ, cho biết :“Ngành chức năng và doanh nghiệp tâm huyết với mặt hàng kinh doanh không bỏ mặc cho nông dân tự bơi trong mặt trận sản xuất, mà phải có trách nhiệm tổ chức sản xuất. Mỗi sản phẩm đưa ra thị trường cần được tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị thực hiện đúng quy trình GAP được liên kết 4 nhà, nòng cốt là do doanh nghiệp đầu ra gắn kết với HTX nông nghiệp”.

Sơn Hồ

loading...
loading...

Related Articles

Add Comment