ĐBSCL : Báo động tình trạng suy kiệt nguồn nước

Category: Thời sự tgo-1

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với địa hình trũng, là hạ lưu của sông MêKông, cùng với hệ thống sông ngòi chằng chịt… được đánh giá là vùng trữ nước ngọt lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hạ lưu các hồ chứa và nước ngầm ở vùng ĐBSCL đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Do vậy, việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước của khu vực ĐBSCL là rất cấp thiết.

dbscl-1

Việt Nam nằm ở cuối nguồn lưu vực sông Mekong, ĐBSCL đã ở trong tình trạng suy kiệt trong mùa khô 2015-2016 và tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn nghiêm trọng nhất trong gần 1 thế kỷ qua. Ngoài tác động của EL Nino cực đoan thì tác động tích lũy ban đầu của các dự án phát triển (thủy điện, lấy nước, chuyển nước) ở vùng thượng lưu sông Mekong cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến toàn bộ khu vực ĐBSCL.

Hơn 15 năm trước ở ĐBSCL luôn đối diện với những trận lũ kinh hoàng, hàng nghìn người dân phải sơ tán, thậm chí bỏ xứ đi nơi khác mưu sinh khi lũ về. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2010 đến nay, ĐBSCL gần như không có lũ mà chỉ có mùa nước nổi ở một số nơi. Nguồn tích nước cạn kiệt đẩy khu vực này luôn đối diện với hạn hán, xâm nhập mặn đến sớm, bao phủ và lấn sâu vào nội đồng. Tình trạng biến đổi khí hậu (BĐKH) mà đặc biệt là hạn hán và xâm nhập mặn, đã làm nguồn nước sông cạn dần và ảnh hưởng lớn đến đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của người dân.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), từ cuối năm 2015 đến nay tổng diện tích cây trồng bị thiệt hại do thiếu nước khoảng 210.000 ha, khoảng 250.000 hộ gia đình với hơn 1,3 triệu người thiếu nước sinh hoạt. Và theo nhận định của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), hiện nay dòng chảy tại khu vực thượng nguồn sông Mê Công giảm, mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm qua.

Vì vậy, việc các nước thượng lưu như Thái Lan, Campuchia, Lào đã và đang triển khai xây dựng các dự án lấy nước/chuyển nước là vấn đề đáng quan ngại cho ĐBSCL. Bà Đặng Thị Hà Giang, Chuyên gia Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường cho rằng: “Nhu cầu dùng nước của các lưu vực đã có kinh nghiệm. Trong khi việc chuyển nước từ lưu vực này sang lưu vực khác là cực kỳ nguy hiểm tác động mạnh nhất đến người dân ở lưu vực đó. Ở ĐBSCL, nếu ở thượng nguồn có chuyển nước, thì hạn hán và ngập mặn sẽ xảy ra khốc liệt. Nếu có lũ còn có thể sống chung, nhưng hạn mặn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân. Đánh giá về thiệt hại về kinh tế môi trường là rất lớn”.

han_han_RDOA.jpg.ashx

Nhiều chuyên gia cho rằng, trước nay Việt Nam đang quá quan tâm tới vấn đề thủy điện mà chưa có một sự nhìn nhận đúng mực về tác động của việc chuyển nước ở các nước thượng nguồn tới ĐBSCL.Theo ông Nguyễn Nhân Quảng, chuyên gia quản lý lưu vực sông cho biết, lưu vực sông Mekong có diện tích khoảng 795.000 km2 với tổng dung lượng nước hàng năm là khoảng 475 tỷ m3. Tuy nhiên, lượng nước phân bổ không đều theo không gian và thời gian. Trong tổng lượng nước hàng năm nói trên Trung Quốc chiếm 16%, Myanma 2%, Lào 35%, Thái Lan 18%, Campuchia 18% và Việt Nam 11%.

PGS, TS Đoàn Văn Cánh, Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam cũng khẳng định: “Chúng ta đang sử dụng 12% lượng nước ngọt, trong đó chỉ 1% nước bề mặt, còn lại 11% là nước ngầm có thể khai thác được. Hiện ĐBSCL đang đứng trước thách thức lớn về bảo đảm an ninh nguồn nước. Từ năm 2015, trung bình vùng ĐBSCL đã bị tụt giảm lượng nước ngầm xuống 15m. Nếu như trước kia, chỉ cần đào sâu khoảng 100m đã có thể khai thác được nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, thì hiện nay phải đào sâu gấp đôi và vẫn có một tỷ lệ lớn nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn, nhiễm hóa chất không sử dụng được”.

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền hiểu biết về lưu vực sông Mekong, để nhận ra rằng chúng ta đang ở thế nguy hiểm. Đặc biệt cần có một sự chia sẻ, liên kết các bên cùng có lợi giữa 4 quốc gia Việt Nam, Lào, Capuchia, Thái Lan trong việc khai thác nguồn nước từ sông Mekong.

Ngoài ra, cần có một sự cam kết chính trị rõ ràng trong vấn đề chuyển nước và trên hết Ủy hội sông Mekong cần có sự hợp tác, lồng ghép với các tổ chức khác như GMS, ASEAN… cân bằng lợi ích giữa các quốc gia trong vấn đề nguồn nước. Việt Nam cũng cần tận dụng hơn nữa các hội nghị quốc tế với các nước láng giềng để đàm phán, chia sẻ về vấn đề an ninh nước trong các chương trình này.

loading...

Related Articles

Add Comment