Cần gia tăng giá trị chất xám để thay đổi giá trị Nông sản Việt

Category: Góc nhìn, Kinh tế tgo-1

Là một nước có thế mạnh về nông nghiệp, nhưng thương hiệu Nông sản Việt vẫn chưa thực sự xứng tầm với tiềm năng của nó. Để thay đổi giá trị của hàng nông sản Việt Nam hiện nay, cần gia tăng giá trị chất xám. Về vùng nguyên liệu phải rộng,  có sự tư vấn của  các nhà khoa học, ít phun xịt thuốc hóa học hơn để tạo nên sự yên tâm cho người tiêu dùng, tạo nên những sản phẩm chất lượng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu…Đó là những ý kiến của ông Phạm Minh Đức, Chuyên gia kinh tế cao cấp của Ngân hàng thế giới (WB) đã thẳng thắn trả lời phỏng vấn của PV Tạp chí Thương gia & Thị trường.

Ông Pham Minh Đức- Chuyên gia kinh tế cao cấp - Ngân  hàng thế giới
Ông Pham Minh Đức- Chuyên gia kinh tế cao cấp – Ngân hàng thế giới

P/V: Ông có nhận xét gì về thế mạnh phát triển nông sản Việt trong chuỗi toàn cầu hóa của ngành Nông nghiệp, thưa ông?

Ông Phạm Minh Đức:  Việt Nam là  một trong những nước  có nhiều thế mạnh xuất khẩu như gạo, cà phê, cao su, tiêu, cá tra… Hiện nay, ngành nông nghiệp chiếm 20% GDP của Việt Nam, 28% giá trị kim ngạnh xuất khẩu và một nửa việc làm trong cả nước.  Sự chuyển dịch cơ cấu đóng một vai trò lớn trong việc giảm nghèo, tăng cường ổn định xã hội và an ninh lương thực cùng với đó là thúc đẩy thương mại quốc tế.

Những cơ hội của Việt Nam đang có là nguồn lực tự nhiên và khí hậu, bên cạnh đó thị trường nội địa rộng lớn với nhu cầu  đối với sản phẩm chất lương cao ngày càng tăng cũng là một lợi thế. Những mặt hàng xuất khẩu hiện nay ở nước ta, chủ yếu là thô, vì thế, có thể  tạo nên giá trị gia tăng cao khi thông qua chế biến. Sự mở rộng các thị trường, thông qua hội nhập và toàn cầu thông qua cộng đồng kinh tế ASEAN, Hiệp định thương mại tư do  Việt Nam –EU, và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương.

Về các mặt hàng nông lâm thủy hải sản, xưa nay chúng ta lấy số lượng nhiều xuất khẩu sang các nước với giá trị không cao. Hiện, người nông dân Đồng bằng Sông cửu Long sản xuất ra số lượng gạo nhiều, nhưng vẫn chưa thể làm giàu trên chính mảnh vườn của mình. Vì một lẽ, người nông dân sản xuất manh mún với các giống lúa chất lượng thấp, khi thương lái mua, về bán lại cho doanh nghiệp, doanh nghiệp cũng xay xát lại, có chọn lựa, đánh bóng rồi đem đi xuất khẩu.  Đó là một thực tế cho thấy hàm lượng giá trị kinh tế của hạt gạo Việt Nam không cao.

Một thống kê cho thấy người dân có mức thu nhập trung bình khá  trong nước thường mua gạo Thái  Lan về nấu.  Giá trị  gạo Thái Lan có thể đắt gấp 1,5 lần gạo trong nước, nhưng người dân trong nước vẫn mua. Tại sao lại như thế? Theo tôi để thay đổi giá trị của hàng nông sản Việt Nam hiện nay, cần gia tăng giá trị chất xám vào trong đó, về vùng nguyên liệu phải rộng, trồng lúa chất lượng cao, có sự tư vấn của  các nhà khoa học, ít phun xịt thuốc hóa học hơn để tạo nên sự yên tâm cho người tiêu dùng, tạo nên hạt gạo chất lượng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Tính liên kết là một sự thúc đẩy cho sự hợp tác, nhưng sự tin cậy cho các bên như nhà khoa học, người nông dân, doanh nghiệp và nhà nước cùng bắt tay nhau tạo nên một câu chuyện cổ tích cho hàng nông sản Việt Nam có giá trị kinh tế cao trong chuỗi giá trị toàn cầu hóa.

P/V: 2 mặt hàng nông sản được đánh giá là chủ lực của Việt Nam là gạo và cà phê. Ông có những nhận định gì về cơ hội và thách thức của 2 mặt hàng này?

Ông Phạm Minh Đức: Hạt gạo Việt Nam chủ yếu được sản xuất và xuất khẩu ở Đồng bằng Sông Cửu Long, chiếm 96% giá trị xuất khẩu và chủ yếu là qua các nước ASEAN với giá trị  53%. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là gạo trắng liên quan đến số lượng nông dân đại lý thu mua, các nhà máy chế biến và các doanh nghiệp xuất khẩu quy mô nhỏ. Gạo của Việt Nam xuất khẩu dưới dạng rời, một số đóng Container vận chuyển từ Đồng bằng Sông Cửu Long qua đường thủy nội địa đến các cảng biển và chủ yếu là cảng biển Tp. HCM. Những yếu tố không thuận lợi là  cơ hội tăng giá trị số lượng xuất khẩu đang giảm dần, nên cần tăng giá trị gia tăng bằng cách tăng  đơn giá sản phẩm.

Cùng với đó là cà phê, Người dân Việt tự hào về mình là người sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng thứ 2, thứ 3 thế giới. Đó là một điều không sai, nhưng giá trị cà phê Việt Nam đang ở đâu trong chuối giá trị kinh tế toàn cầu thì chúng ta cần nghiêm túc nhìn lại. Hiện nay, cà phê nhân xuất khẩu  của Việt Nam thường là cà phê Robusta có giá trị gia tăng thấp, do các vườn cà phê có quy mô hộ gia đình từ 2 đến 3 ha thu hoạch và chế biến. 93%  cà phê sản xuất tại Tây Nguyên xuất khẩu chiếm 88,8% qua các cảng biển tại  TP. HCM và qua các nước như EU, Mỹ, Nhật Bản. Từ đây có thể thấy sự sản xuất  cây cà phê trong người dân tăng nhanh, nhưng năng suất và chất lượng cà phê đều giảm. Một phần vườn cà phê đã quá tuổi, phân tán trong chuỗi cung ứng trong nước thiếu vốn lưu động gây ra những hạn chế về thu mua và sự phối hợp liên kết giữa nhà máy và hộ gia đình trồng cà phê.

Đây là những thách thức  không những cho người nông dân, doanh nghiệp và các cơ quan chức năng của Việt Nam. Trên cơ sở ấy cần có những giải pháp linh hoạt  và đồng bộ, tạo cho người nông dân trồng loại cà phê mới có chất lượng cũng như thay đổi vườn cà phê đã già cỗi. Bên cạnh đó, có những chính sách ưu đãi về vay vốn để các hộ dân yên tâm trồng và sản xuất cà phê. Không những thế, nhà nước là một “ bà đỡ”  mát tay trong việc tạo nên những mùa màng bội thu cho người dân khi có những chính sách sát với đời sống của người nông dân. Khi đã có hạt cà phê thơm ngon thì có doanh nghiệp nông nghiệp, thực phẩm tìm các mẫu mã, khoa học kỹ thuật để sản xuất taọ  nên giá trị kinh tế cao trong chuỗi giá trĩ cung ứng trong nước để từ đó có những giá trị kinh tế cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Xin cảm ơn ông!

Mạnh Hùng

loading...

Related Articles

Add Comment